Rối loạn tâm lý

Trầm cảm ở học sinh: Dấu hiệu và cách cha mẹ, thầy cô hỗ trợ

Trầm cảm ở tuổi vị thành niên thường hiện ra bằng cáu kỉnh, mệt mỏi, học sa sút. Bài nêu dấu hiệu, số liệu V-NAMHS, cách mở lời và vai trò nhà trường.

Cắt giấy nhiều lớp: bàn học nhìn nghiêng với chồng sách, vở và cốc bút ngay ngắn, trong hộc bàn có một tờ giấy gấp nhỏ chìa ra với góc màu xanh rêu; chữ Trầm cảm ở học sinh

Một cậu học sinh lớp 9 dạo này hay gắt với cả nhà, đóng cửa phòng suốt buổi, bỏ đá bóng và điểm sụt dần. Nhiều người lớn nghĩ đó là “tuổi nổi loạn”, nhưng nếu những thay đổi ấy kéo dài từ hai tuần trở lên và khác hẳn trước đây, đó có thể là dấu hiệu trầm cảm. Ở tuổi học trò, trầm cảm có thể hiện ra bằng cáu kỉnh, mệt mỏi hay học sa sút thay vì nước mắt. Một cuộc trò chuyện bình tĩnh là bước khởi đầu an toàn. Cùng Trần Toàn Psy tìm hiểu nhé!

Trầm cảm ở học sinh là gì?

Trầm cảm ở học sinh là cách gọi đời thường cho rối loạn trầm cảm xảy ra ở trẻ em và thanh thiếu niên đang đi học. Theo ICD-11, một giai đoạn trầm cảm gồm ít nhất năm triệu chứng xuất hiện gần như cả ngày, hầu hết các ngày, trong ít nhất hai tuần, trong đó phải có khí sắc trầm hoặc mất hứng thú.1 Ở trẻ em và thanh thiếu niên, mọi đặc điểm này đều có thể xuất hiện. Điều quan trọng là triệu chứng phải là một sự thay đổi so với chính em trước đó.1

Trầm cảm tương đối hiếm ở trẻ nhỏ, và tỷ lệ ở trẻ trai, trẻ gái gần như nhau. Sau tuổi dậy thì, tỷ lệ tăng rõ, và trẻ gái có khả năng gặp một giai đoạn trầm cảm cao gấp khoảng hai lần trẻ trai.1 Với trẻ nhỏ, chuyên gia thường phải dựa nhiều vào lời kể của cha mẹ để biết các thay đổi bắt đầu từ khi nào.1 Bài này không nhắc lại toàn bộ kiến thức chung về trầm cảm mà tập trung vào cách nó biểu hiện ở lứa tuổi học sinh và điều người lớn có thể làm.

Trầm cảm ở tuổi học trò khác người lớn thế nào?

Khác biệt dễ bị bỏ sót nhất là sự cáu kỉnh. ICD-11 ghi nhận ở trẻ em và thanh thiếu niên, khí sắc trầm đôi khi hiện ra thành sự cáu kỉnh lan tỏa.1 Theo một bản tóm lược lâm sàng, DSM-5 cũng ghi nhận trẻ em và thanh thiếu niên bị rối loạn trầm cảm chủ yếu có thể biểu hiện bằng khí sắc cáu kỉnh.2 Vì vậy, một học sinh hay gắt gỏng, dễ nổi nóng có thể đang buồn bã nhiều hơn vẻ ngoài.

Tuy vậy, cáu kỉnh tự nó không có nghĩa là trầm cảm. ICD-11 lưu ý đó có thể là dấu hiệu của một rối loạn khác, hoặc chỉ là phản ứng bình thường khi bực bội.1 Điều đáng để ý là cáu kỉnh kéo dài gần như cả ngày, nhiều ngày liền, và đi cùng những thay đổi khác như mất hứng thú hay mệt mỏi. Vài trận cãi nhau vì giờ dùng điện thoại chưa đủ để nói lên điều gì.

Một số biểu hiện khác cũng mang dấu ấn lứa tuổi. Ngủ nhiều và ăn nhiều gặp ở thanh thiếu niên nhiều hơn ở người lớn, còn ở trẻ đang lớn, thay đổi ăn uống có thể thể hiện bằng việc không tăng cân như mong đợi thay vì sụt cân.1 Giảm tập trung thường lộ ra qua kết quả học tập đi xuống, làm bài lâu hơn hoặc không hoàn thành bài. Trẻ nhỏ hơn có thể than đau đầu, đau bụng, mè nheo, khóc nhiều hoặc sợ xa cha mẹ hơn trước.1

Bốn biểu hiện có thể gặp ở học sinh: cáu kỉnh kéo dài, ngủ và ăn nhiều, học sa sút, đau đầu đau bụng ở trẻ nhỏ

Hai hệ phân loại cũng xếp sự cáu kỉnh kéo dài ở trẻ theo cách hơi khác nhau. DSM-5 có thêm rối loạn điều hòa khí sắc gây rối (disruptive mood dysregulation disorder) trong nhóm rối loạn trầm cảm.2 Trong khi đó, phần mô tả rối loạn khí sắc của ICD-11 nhắc đến rối loạn chống đối thách thức kèm cáu kỉnh, giận dữ mạn tính như một chẩn đoán khác cần phân biệt.1 Việc phân định này cần chuyên gia đánh giá trực tiếp, cha mẹ và thầy cô không cần tự gắn tên cho trẻ.

Cha mẹ và thầy cô có thể nhận ra những dấu hiệu nào?

Dấu hiệu quan trọng nhất là sự thay đổi so với chính em trước đây, kéo dài và lan sang nhiều mặt của cuộc sống. Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) liệt kê nỗi buồn hoặc khí sắc thấp không qua đi, cáu kỉnh thường xuyên, mất hứng thú với những điều từng thích và mệt mỏi phần lớn thời gian.3 Trẻ cũng có thể khó ngủ hoặc ngủ nhiều hơn, khó tập trung, ít trò chuyện với bạn bè và gia đình, thiếu tự tin, ăn ít hoặc ăn quá nhiều, hay nói mình thấy có lỗi, vô dụng.3

Ở trường, thầy cô có thể thấy những thay đổi mà cha mẹ ở nhà khó thấy. NHS lưu ý rằng học hành sa sút và hành vi gây rối ở trường có thể là dấu hiệu trầm cảm.3 Tài liệu dành cho thanh thiếu niên của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH) cũng nhắc đến điểm số tụt dốc và việc rút lui khỏi bạn bè, gia đình.4 Ví dụ, một học sinh vốn hăng hái phát biểu có thể ngồi lặng lẽ cả tiết, bỏ câu lạc bộ hay liên tục nộp bài trễ.

Dấu hiệu cần được xem nghiêm túc nhất là khi trẻ nói về cái chết hoặc việc làm hại bản thân. ICD-11 mô tả trẻ nhỏ có thể nói những câu bị động như “con không muốn ở đây nữa”, còn thanh thiếu niên thường nói thẳng hơn về mong muốn được chết.1 Hành vi tự làm hại không nhằm tự sát cũng có thể xuất hiện, và nếu không được quan tâm, chúng có xu hướng tăng dần theo thời gian.1 Những lời như vậy cần được lắng nghe và đưa tới hỗ trợ chuyên môn, không nên gạt đi là “làm màu”.

Nếu con bạn hoặc một học sinh nói về cái chết, có ý định làm hại bản thân hay đang gặp nguy hiểm, hãy ở bên em, đưa em đến cơ sở y tế gần nhất hoặc gọi cấp cứu 115. Khi có nguy hiểm tức thời, hãy gọi công an 113. Các dấu hiệu trong bài giúp người lớn biết khi nào cần hỏi chuyên gia, không dùng để tự chẩn đoán cho trẻ.

Trầm cảm ở học sinh Việt Nam phổ biến đến đâu?

Trên toàn cầu, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính cứ bảy người 10 đến 19 tuổi thì có một người gặp một rối loạn tâm thần.5 Riêng trầm cảm, WHO ước tính tỷ lệ khoảng 1,3% ở nhóm 10 đến 14 tuổi và 3,4% ở nhóm 15 đến 19 tuổi.5 Các rối loạn lo âu và trầm cảm có thể ảnh hưởng nhiều đến việc đi học và kết quả học tập. WHO cũng lưu ý rằng phần lớn các vấn đề này vẫn chưa được nhận ra và chưa được điều trị.5

Tại Việt Nam, Khảo sát Sức khỏe Tâm thần Vị thành niên Việt Nam (V-NAMHS) là khảo sát đại diện quốc gia đầu tiên đo tỷ lệ rối loạn tâm thần ở trẻ 10 đến 17 tuổi.6 Khảo sát phỏng vấn 5.996 em và cha mẹ ở 38 tỉnh, từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2021, bằng một bộ phỏng vấn chẩn đoán chuẩn hóa. Trong 12 tháng trước đó, 21,7% em có vấn đề sức khỏe tâm thần và 3,3% đủ tiêu chí một rối loạn.6

Riêng với trầm cảm, 4,3% có vấn đề trầm cảm, tức có từ một nửa số triệu chứng cần thiết trở lên, và 0,9% đủ tiêu chí rối loạn trầm cảm chủ yếu.6 Khảo sát diễn ra trong đại dịch COVID-19, và người phỏng vấn là cán bộ được tập huấn chứ không phải bác sĩ. Dù vậy, khảo sát này dùng công cụ phỏng vấn chẩn đoán, trong khi phần lớn nghiên cứu trước đó ở Việt Nam chỉ dùng thang sàng lọc triệu chứng.6

Khảo sát V-NAMHS 2021: 4,3% trẻ 10–17 tuổi có vấn đề trầm cảm, 0,9% đủ tiêu chí rối loạn trầm cảm chủ yếu, 21,7% có vấn đề sức khỏe tâm thần và 3,3% đủ tiêu chí một rối loạn

Các khảo sát dùng thang tự trả lời thường cho con số cao hơn nhiều. Một phân tích gộp năm 2022 tổng hợp 72 nghiên cứu về thanh thiếu niên trên thế giới.7 Khoảng 34% các em tự báo cáo triệu chứng trầm cảm tăng cao, trong khi tỷ lệ rối loạn trầm cảm chủ yếu là khoảng 8%.7 Ở Cần Thơ, một nghiên cứu cắt ngang năm 2025 trên 1.054 học sinh 15 đến 18 tuổi ghi nhận 37,4% có triệu chứng trầm cảm.8 Nói cách khác, “có triệu chứng” trên bảng hỏi khác với “đủ tiêu chí rối loạn”.

Vì sao học sinh có thể bị trầm cảm?

Không có một nguyên nhân duy nhất, và thường là nhiều yếu tố cộng lại. WHO cho biết càng chịu nhiều yếu tố nguy cơ, sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên càng dễ bị ảnh hưởng.5 Các yếu tố được nêu gồm nghịch cảnh, áp lực phải giống bạn bè, quá trình tìm hiểu bản thân, chất lượng đời sống gia đình và quan hệ bạn bè. Bạo lực, nhất là bạo lực tình dục và bắt nạt, cách nuôi dạy khắc nghiệt và khó khăn kinh tế nghiêm trọng cũng là những nguy cơ đã được ghi nhận.5

Nhóm Đặc nhiệm Dịch vụ Dự phòng Hoa Kỳ (USPSTF) liệt kê thêm một số yếu tố nguy cơ.9 Đó là tiền sử gia đình có trầm cảm, từng có giai đoạn trầm cảm, bị ngược đãi hoặc bỏ bê, trải qua sang chấn, bị bắt nạt và quan hệ khó khăn với cha mẹ. NHS lưu ý trầm cảm đôi khi được khơi lên bởi một biến cố như cha mẹ ly thân, mất người thân, hay rắc rối ở trường.3 Thường thì trẻ vừa có sẵn khuynh hướng dễ bị trầm cảm, vừa trải qua những sự kiện khó khăn.3

Ở Việt Nam, áp lực học tập được nhắc đến nhiều. Một nghiên cứu định tính năm 2013 phỏng vấn và thảo luận nhóm với học sinh trung học, cha mẹ, giáo viên và chuyên gia.10 Các bên đều xem trầm cảm, lo âu, căng thẳng và ý nghĩ tự sát là những vấn đề lớn. Họ cho rằng các vấn đề này chủ yếu gắn với áp lực học tập do chương trình quá tải và kỳ vọng của thầy cô, cha mẹ.10 Đây là cảm nhận của những người trong cuộc, chưa phải số đo về nguyên nhân.

Nghiên cứu ở Cần Thơ nói trên cũng ghi nhận áp lực học tập là một trong các yếu tố liên quan đến triệu chứng trầm cảm.8 Các yếu tố khác gồm lối suy nghĩ méo mó, từng chịu bạo lực giữa người với người, uống rượu, hút thuốc, gia đình có người trầm cảm và từng bị bạo lực tình dục trên mạng.8 Vì là nghiên cứu cắt ngang, kết quả chỉ cho thấy mối liên quan. Vẫn còn một câu hỏi chưa có lời đáp: áp lực học tập dẫn đến trầm cảm, hay trầm cảm khiến việc học trở nên nặng nề hơn?

Nên mở lời với con hoặc học sinh như thế nào?

Bước đầu tiên là trò chuyện và xem trọng điều em đang trải qua. NHS khuyên cha mẹ cố gắng tìm hiểu điều gì đang làm con bận lòng và con đang cảm thấy thế nào.3 Dù vấn đề có vẻ nhỏ với người lớn, nó có thể rất lớn với trẻ, nên cần được xem trọng.3 Ví dụ, thay vì hỏi “Sao dạo này lười thế?”, cha mẹ có thể nói “Mẹ thấy dạo này con hay mệt và ít ra ngoài, mẹ hơi lo, có chuyện gì làm con nặng lòng không?”.

Nếu em chưa muốn nói, người lớn không cần ép. NHS gợi ý cho trẻ biết cha mẹ đang lo cho con và luôn sẵn sàng khi con cần.3 Cha mẹ cũng có thể khuyến khích trẻ nói chuyện với một người khác mà trẻ tin, như người thân, bạn bè hoặc ai đó ở trường. Trao đổi với những người hiểu trẻ, kể cả liên hệ nhà trường để hỏi thầy cô có thấy điều gì đáng lo không, cũng là một cách hữu ích.3

Bốn bước mở lời với con hoặc học sinh, kèm ví dụ thay câu hỏi trách móc bằng lời thể hiện sự quan tâm

Cha mẹ giữ vai trò đặc biệt vì đa số trẻ tâm sự với gia đình. Trong khảo sát V-NAMHS, 73,9% em có tâm sự với ai đó cho biết thường nói với người trong gia đình, 38,2% nói với bạn bè, và chỉ 2,9% nói với thầy cô.6 Tuy vậy, chỉ 5,1% cha mẹ nhận thấy con cần được giúp đỡ về cảm xúc, hành vi, dù 21,7% trẻ có vấn đề sức khỏe tâm thần.6 Nhóm nghiên cứu cho rằng điều này có thể phản ánh hiểu biết còn hạn chế về sức khỏe tâm thần và tâm lý ngại bị kỳ thị.

Những rào cản cha mẹ nêu ra trong khảo sát cũng rất đời thường. Trong số cha mẹ nhận thấy con cần được giúp, lý do được chọn nhiều nhất là muốn tự giải quyết trong nhà hoặc với sự hỗ trợ của gia đình, chiếm 20,4%.6 Cũng trong nhóm cha mẹ ấy, khoảng một phần mười không chắc con có cần giúp hay không, và một phần mười khác không biết phải tìm giúp đỡ ở đâu.6 Biết dấu hiệu nào đáng lo và biết bắt đầu từ đâu vì thế là bước rất thực tế cho mỗi gia đình.

Nhà trường có thể làm gì?

Thầy cô ở vị trí thuận lợi để nhận ra sớm, vì học sa sút, làm bài chậm hơn hay không hoàn thành bài đều có thể là dấu hiệu trầm cảm.1 Dù vậy, trong khảo sát V-NAMHS, chỉ 5,5% số em từng dùng dịch vụ hỗ trợ cảm xúc, hành vi đã tìm đến nhân viên nhà trường.6 Nhóm nghiên cứu khuyến nghị lồng ghép sàng lọc sức khỏe tâm thần vào dịch vụ y tế sẵn có, kèm đào tạo nhân viên y tế đa khoa về cách chuyển tuyến.6

Bằng chứng về các chương trình phòng ngừa trầm cảm trong trường học hiện còn hạn chế. Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp mạng năm 2019 tổng hợp 137 nghiên cứu với 56.620 trẻ em và thanh thiếu niên từ 4 đến 18 tuổi.11 Nhóm tác giả không tìm thấy bằng chứng cho thấy một loại chương trình nào phòng ngừa được trầm cảm, dù áp dụng cho mọi học sinh hay cho nhóm có nguy cơ. Họ đề xuất hướng tới cách tiếp cận nhiều tầng, tác động lên cả hệ thống thay vì chỉ một chương trình riêng lẻ.11

Dù vậy, ở Mỹ vẫn có khuyến nghị ủng hộ chương trình chọn lọc. Trang USPSTF dẫn lại khuyến nghị của một nhóm đặc nhiệm khác, ủng hộ liệu pháp nhận thức hành vi trong trường cho nhóm học sinh được chọn.9 WHO cũng xem trường học là một trong nhiều nơi triển khai chương trình nâng cao sức khỏe tâm thần, bên cạnh cộng đồng, cơ sở y tế, xã hội và truyền thông số.5 Vì vậy, vai trò thực tế của nhà trường là để ý, trò chuyện, phối hợp với gia đình và giới thiệu em tới cơ sở y tế.

Bốn việc nhà trường có thể làm: để ý, trò chuyện, phối hợp với gia đình, giới thiệu em đi khám, kèm số liệu chỉ 5,5% số em từng dùng dịch vụ hỗ trợ đã tìm đến nhân viên nhà trường

Trầm cảm ở học sinh được đánh giá và điều trị ra sao?

Ở Mỹ, USPSTF khuyến nghị sàng lọc rối loạn trầm cảm chủ yếu cho trẻ 12 đến 18 tuổi tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu.9 Với trẻ từ 11 tuổi trở xuống và với việc sàng lọc nguy cơ tự sát, nhóm này kết luận bằng chứng hiện chưa đủ để đánh giá lợi ích và nguy cơ. Sàng lọc chỉ là bước tìm ra em cần được đánh giá kỹ hơn, và chẩn đoán cần một buổi khám trực tiếp. Các lựa chọn điều trị gồm trị liệu tâm lý, thuốc và mô hình chăm sóc phối hợp, được quyết định cùng trẻ và cha mẹ.9

Một phân tích gộp mạng năm 2020 gồm 71 thử nghiệm với 9.510 trẻ, phần lớn trầm cảm vừa đến nặng.12 Không thuốc nào dùng riêng tốt hơn trị liệu tâm lý dùng riêng, nhưng phối hợp thuốc chống trầm cảm với liệu pháp nhận thức hành vi tốt hơn liệu pháp này dùng riêng.12 Về trị liệu tâm lý, chỉ liệu pháp tương tác cá nhân, tức tập trung vào các mối quan hệ, vượt mọi nhóm đối chứng. Kết quả phần lớn có độ tin cậy thấp, nên nhóm tác giả khuyên cân nhắc lợi ích và nguy cơ, cả nguy cơ tự sát, theo từng ca.12

WHO nhấn mạnh việc ưu tiên các cách tiếp cận không dùng thuốc và tránh y tế hóa quá mức với trẻ vị thành niên.5 Nếu có dùng thuốc chống trầm cảm, USPSTF khuyên nhân viên y tế theo dõi sát trẻ theo hướng dẫn của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ.9 Ở Việt Nam, mọi quyết định bắt đầu, ngừng hay đổi thuốc cho trẻ cần do bác sĩ kê đơn đưa ra, sau khi trao đổi với gia đình.

Khi nào nên đưa trẻ đi gặp chuyên gia?

Nên đưa trẻ đi khám khi buồn bã, cáu kỉnh hay mất hứng thú kéo dài từ hai tuần trở lên và ảnh hưởng đến việc học, giấc ngủ hoặc các mối quan hệ. NHS khuyên cha mẹ đặt lịch khám khi nghĩ con có thể bị trầm cảm hoặc lo lắng về sức khỏe chung của con, và nhấn mạnh tìm giúp đỡ sớm.3 Trầm cảm kéo dài càng lâu càng dễ làm xáo trộn cuộc sống của trẻ.3 Gia đình có thể bắt đầu từ bác sĩ nhi, bác sĩ đa khoa, phòng khám tâm lý hoặc khoa tâm thần nhi tại bệnh viện.

Nếu trẻ nói về cái chết, có ý nghĩ hoặc hành vi làm hại bản thân, đó là lúc cần được hỗ trợ y tế ngay. Hãy ở bên trẻ, đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất hoặc gọi cấp cứu 115, và gọi công an 113 khi có nguy hiểm tức thời. WHO ghi nhận tự sát là nguyên nhân tử vong đứng thứ ba ở nhóm 15 đến 29 tuổi.5 Vì thế, những lời nói về cái chết cần được hỗ trợ kịp thời, và tìm giúp đỡ sớm là việc làm có trách nhiệm, không phải dấu hiệu cha mẹ đã thất bại.

Khi nào nên đưa trẻ đi khám và khi nào cần hỗ trợ y tế ngay, kèm số cấp cứu 115 và công an 113

Bài viết giúp cha mẹ và thầy cô hiểu cách trầm cảm biểu hiện ở học sinh, không thay thế việc thăm khám của bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần. Thông tin về điều trị chỉ mang tính tham khảo, không phải hướng dẫn dùng thuốc.

Nếu gia đình đang cân nhắc trị liệu tâm lý cho con, bài về trị liệu tâm lý mất bao lâu giúp hình dung thời gian cần thiết. Bài viết đó cũng giải thích vì sao số buổi trị liệu khác nhau giữa từng người, nên không có một mốc chung cho mọi em. Kế hoạch cụ thể nên được bàn với chuyên gia sau khi trẻ được đánh giá đầy đủ.

Tài liệu tham khảo học thuật

1. World Health Organization. (2025). Mood disorders. Xem nguồn

2. Bains, N., & Abdijadid, S. (2023). Major depressive disorder. Xem nguồn

3. NHS. (2023). Depression in children and young people. Xem nguồn

4. National Institute of Mental Health. (n.d.). Teen depression: More than just moodiness. Xem nguồn

5. World Health Organization. (2025). Mental health of adolescents. Xem nguồn

6. Institute of Sociology, University of Queensland, & Johns Hopkins Bloomberg School of Public Health. (2022). Viet Nam Adolescent Mental Health Survey: Report on main findings. Xem nguồn

7. Shorey, S., et al. (2022). Global prevalence of depression and elevated depressive symptoms among adolescents: A systematic review and meta-analysis. Xem nguồn

8. Tran, L. C. T., et al. (2025). Prevalence of depressive symptoms and their determinants among adolescents in Can Tho City, Vietnam: A cross-sectional study. Xem nguồn

9. US Preventive Services Task Force. (2022). Depression and suicide risk in children and adolescents: Screening. Xem nguồn

10. Nguyen, D. T., et al. (2013). Perspectives of pupils, parents, and teachers on mental health problems among Vietnamese secondary school pupils. Xem nguồn

11. Caldwell, D. M., et al. (2019). School-based interventions to prevent anxiety and depression in children and young people: A systematic review and network meta-analysis. Xem nguồn

12. Zhou, X., et al. (2020). Comparative efficacy and acceptability of antidepressants, psychotherapies, and their combination for acute treatment of children and adolescents with depressive disorder: A systematic review and network meta-analysis. Xem nguồn

Đọc tiếp

Nội dung liên quan