Rối loạn tâm lý

Trầm cảm sau sinh: Khác gì baby blues và khi nào cần hỗ trợ?

Trầm cảm sau sinh nặng và kéo dài hơn baby blues. Bài giải thích cách DSM-5-TR, ICD-11 mô tả, yếu tố nguy cơ, ảnh hưởng tới mẹ con và vai trò người thân.

Nét vẽ tay japandi: góc phòng với chiếc nôi tre có em bé quấn chăn nằm trong, đồ chơi treo nôi, tấm chăn mỏng của người lớn vắt trên thành nôi và chiếc khăn sữa gấp dở, bên cạnh khung tranh vẽ một cành lá nhỏ; chữ Trầm cảm sau sinh

Vài ngày sau khi sinh, nhiều người mẹ bỗng khóc mà không rõ vì sao, dễ cáu và thấy rối bời giữa những cữ bú đêm. Nếu cảm giác ấy nhẹ và tự qua trong khoảng hai tuần, đó thường là “baby blues”, một phản ứng rất phổ biến. Trầm cảm sau sinh thì khác: nỗi buồn, sự mất hứng thú hay lo âu nặng hơn, kéo dài hơn và làm khó cả việc chăm sóc bản thân lẫn em bé. Đây là tình trạng có thể được sàng lọc, đánh giá và điều trị. Cùng Trần Toàn Psy tìm hiểu nhé!

Trầm cảm sau sinh là gì?

Trầm cảm sau sinh (postpartum depression) là một giai đoạn trầm cảm khởi phát quanh thời điểm sinh con. Người mẹ có khí sắc buồn hoặc mất hứng thú gần như cả ngày, kéo dài ít nhất hai tuần, kèm thay đổi về giấc ngủ, ăn uống, năng lượng và cảm nhận về bản thân.1 Biểu hiện về cơ bản giống trầm cảm ở các thời điểm khác, điểm riêng nằm ở bối cảnh mang thai và sinh nở. Giới chuyên môn còn dùng chữ trầm cảm chu sinh (perinatal depression), tức gồm cả trầm cảm khi đang mang thai lẫn sau sinh.

Trong DSM-5-TR của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, trầm cảm sau sinh không phải một chẩn đoán riêng. Theo một tổng quan lâm sàng cập nhật năm 2025, điều kiện là giai đoạn đó đáp ứng tiêu chí rối loạn trầm cảm chủ yếu và khởi phát trong thai kỳ hoặc trong bốn tuần sau sinh. Khi ấy, chuyên gia ghi thêm đặc điểm chỉ định (specifier) “khởi phát quanh sinh” (with peripartum onset).1 Cách gọi này thay cho chữ “sau sinh” vì khoảng một nửa số giai đoạn trầm cảm sau sinh thật ra đã bắt đầu từ trước khi em bé chào đời.1

ICD-11 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có mã 6E20, dành cho rối loạn tâm thần hoặc hành vi liên quan đến thai kỳ, sinh nở và hậu sản, không có triệu chứng loạn thần. Mốc khởi phát là trong thai kỳ hoặc đến khoảng sáu tuần sau sinh, và biểu hiện thường gặp nhất là các triệu chứng trầm cảm.2 Nếu triệu chứng đủ tiêu chí của một giai đoạn trầm cảm, chuyên gia ghi thêm chẩn đoán rối loạn trầm cảm một giai đoạn hoặc tái diễn.2 Mã này không dùng cho những triệu chứng nhẹ, thoáng qua ngay sau sinh.

Điểm so sánhDSM-5-TRICD-11
Có phải chẩn đoán riêng?Không, là đặc điểm chỉ định “khởi phát quanh sinh”Có mã 6E20, nhưng ghi kèm chẩn đoán trầm cảm nếu đủ tiêu chí
Mốc khởi phátTrong thai kỳ hoặc bốn tuần sau sinhTrong thai kỳ hoặc khoảng sáu tuần sau sinh
Phạm vi triệu chứngGiai đoạn trầm cảm chủ yếuThường là trầm cảm, có thể là lo âu hoặc ám ảnh cưỡng chế
Baby bluesKhông phải rối loạnKhông dùng mã 6E20 cho triệu chứng nhẹ, thoáng qua

Như vậy, hai hệ thống dùng mốc thời gian khác nhau: bốn tuần với DSM-5-TR và khoảng sáu tuần với ICD-11. Trong thực hành, nhiều chuyên gia vẫn tính cả những trường hợp khởi phát đến 12 tháng sau sinh.1 Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) cũng lưu ý triệu chứng có thể bắt đầu từ khi mang thai cho tới một năm sau sinh.3 Vì vậy, một người mẹ chùng xuống ở tháng thứ năm vẫn cần được quan tâm như ở tuần đầu.

Baby blues và trầm cảm sau sinh khác nhau thế nào?

Khác biệt chính nằm ở thời gian, mức độ và ảnh hưởng đến sinh hoạt. Baby blues, còn gọi là buồn sau sinh, gồm những thay đổi cảm xúc nhẹ như dễ khóc, buồn, cáu, lo lắng, khó ngủ, mệt và khó tập trung. Các biểu hiện này thường xuất hiện trong hai đến ba ngày sau sinh và qua đi trong vòng hai tuần.1 Baby blues không làm suy giảm đáng kể khả năng sinh hoạt và không được xem là một rối loạn tâm thần.1

Baby blues rất phổ biến, nhưng con số khác nhau nhiều giữa các nghiên cứu vì mỗi nơi định nghĩa một kiểu. Một ước tính được tổng quan lâm sàng dẫn lại là khoảng 39%, dao động từ khoảng 14% đến 76%.1 Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH) mô tả đây là cảm giác lo lắng, không vui và kiệt sức mà nhiều người mẹ trải qua trong hai tuần đầu.4 Chăm một em bé cần người bên cạnh suốt ngày đêm, nên thấy mệt hay quá tải đôi lúc là điều dễ hiểu.

Trầm cảm sau sinh nặng hơn, kéo dài hơn và cản trở sinh hoạt, kể cả việc chăm em bé. ICD-11 lưu ý rằng lúc đầu, trầm cảm sau sinh có thể bị nhầm với baby blues.2 Theo NIMH, cảm xúc buồn hay lo âu nặng, hoặc kéo dài quá hai tuần sau sinh, có thể là dấu hiệu của trầm cảm sau sinh. Tình trạng này thường không tự khá lên nếu không được điều trị.4

Ranh giới giữa hai tình trạng cũng không phải lúc nào cũng rõ ràng. Baby blues nặng có liên quan đến nguy cơ trầm cảm về sau.1 Trong một nghiên cứu được tổng quan này dẫn lại, 27,7% người có baby blues sau đó gặp trầm cảm chu sinh, so với 16,4% ở người không có baby blues.1 Vì vậy, nếu cảm giác buồn không nhạt dần sau hai tuần mà ngày càng nặng, đó là lúc nên đi khám thay vì chờ thêm.

Điểm so sánhBaby bluesTrầm cảm sau sinh
Thời điểmThường bắt đầu hai đến ba ngày sau sinhTrong thai kỳ hoặc bất kỳ lúc nào trong năm đầu
Thời gianQua đi trong khoảng hai tuầnTừ hai tuần trở lên, có thể kéo dài nhiều tháng
Mức độNhẹ, lên xuống thất thườngNặng hơn, kéo dài gần như cả ngày
Ảnh hưởng sinh hoạtKhông đáng kểKhó chăm sóc bản thân, em bé, công việc nhà
Cần làm gìNghỉ ngơi, có người hỗ trợ, theo dõiGặp nhân viên y tế để được đánh giá

Dấu hiệu nào thường gặp ở trầm cảm sau sinh?

Các dấu hiệu tương tự trầm cảm ở thời điểm khác, nhưng thường xoay quanh vai trò làm mẹ và em bé. ICD-11 liệt kê khí sắc buồn, khóc nhiều, khó gắn bó với em bé, thu mình khỏi gia đình và bạn bè, ăn ít hoặc ăn nhiều hơn hẳn, mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều.2 Người mẹ cũng có thể kiệt sức, mất hứng thú, cáu giận dữ dội, sợ mình không phải người mẹ tốt, thấy tội lỗi, xấu hổ hay vô dụng.2 NIMH nêu thêm một chi tiết dễ nhận ra là khó ngủ ngay cả khi em bé đang ngủ.4

Lo âu và những ý nghĩ ám ảnh cũng có thể đi kèm. ICD-11 mô tả lo lắng quá mức, cơn hoảng sợ, hoặc ý nghĩ lặp đi lặp lại rằng em bé bị đau, bị nhiễm bẩn hay bị lạc, kèm hành vi kiểm tra hoặc né tránh.2 Tuy vậy, ICD-11 cũng nói rõ việc lo cho em bé và đôi lúc thoáng nghĩ đến điều xấu có thể xảy ra là chuyện phổ biến. Chúng chỉ đáng lo khi kéo dài, gây khổ sở nhiều và cản trở việc chăm con.2

Một số người có ý nghĩ về cái chết, về việc làm hại bản thân hoặc em bé.4 Đây là tình huống cần được hỗ trợ y tế ngay, không phải điều đáng xấu hổ phải giấu đi. Hiếm hơn nhiều là loạn thần sau sinh, gặp ở khoảng 1 đến 2 trên 1.000 ca sinh, thường khởi phát trong vài ngày đến vài tuần đầu.1 Người mẹ có thể nghe hoặc thấy những điều không có thật, lú lẫn hay có niềm tin sai lệch, và NIMH coi đây là một tình trạng cấp cứu tâm thần.4

Nếu bạn hoặc người thân có ý nghĩ làm hại bản thân hay em bé, hoặc sau sinh có biểu hiện lú lẫn, nghe hay thấy điều không có thật, hãy đến cơ sở y tế gần nhất hoặc gọi cấp cứu 115. Khi có nguy hiểm tức thời, hãy gọi công an 113 và không để người mẹ ở một mình. Các dấu hiệu trong bài giúp bạn nhận biết khi nào cần hỏi chuyên gia, không dùng để tự chẩn đoán.

Trầm cảm sau sinh phổ biến đến đâu?

Trầm cảm sau sinh là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp nhất sau khi sinh con. Một phân tích gộp năm 2021 tổng hợp 565 nghiên cứu từ 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, ước tính tỷ lệ chung khoảng 17%.5 Tỷ lệ thấp hơn rõ ở các nước phát triển, thu nhập cao, và cao nhất ở khu vực phía nam châu Phi, gần 40%.5 Hơn 80% nghiên cứu dùng thang sàng lọc do người mẹ tự trả lời, và nhóm tác giả thừa nhận cách đo này có thể gây sai lệch.5

Trang thông tin của WHO đưa ra một ước tính gần tương tự. Trên toàn cầu, khoảng 13% phụ nữ vừa sinh con gặp một rối loạn tâm thần, chủ yếu là trầm cảm, và con số này là 19,8% ở các nước đang phát triển.6 Đây là tỷ lệ các rối loạn tâm thần nói chung, không riêng trầm cảm. Dù cách tính khác nhau, các nguồn đều gợi ý rằng trầm cảm sau sinh không phải chuyện hiếm gặp.

Ở Việt Nam, dữ liệu còn rời rạc. Một tổng quan năm 2021 tổng hợp 18 nghiên cứu trên phụ nữ Việt Nam công bố từ 2010 đến 2020.7 Tỷ lệ trầm cảm sau sinh trong các nghiên cứu này dao động từ 8,2% đến 37,1%, đo ở các thời điểm từ 1 tháng đến khoảng một năm sau sinh hoặc lâu hơn.7 Khoảng chênh lớn này phần nhiều do mỗi nghiên cứu dùng công cụ, ngưỡng điểm, thời điểm và địa bàn khác nhau. Nhóm tác giả cũng lưu ý chưa có nghiên cứu nào trong nước khảo sát tháng đầu tiên sau sinh.7

Ước tính tỷ lệ trầm cảm sau sinh: khoảng 17% toàn cầu, khoảng 13% phụ nữ vừa sinh gặp rối loạn tâm thần theo WHO, và 8,2% đến 37,1% trong các nghiên cứu ở Việt Nam

Vì sao trầm cảm sau sinh xảy ra và ai dễ gặp hơn?

Trầm cảm sau sinh không có một nguyên nhân duy nhất, và không phải do người mẹ đã làm sai điều gì. NIMH nhấn mạnh rằng bất kỳ ai mang thai hoặc vừa sinh con cũng có thể gặp tình trạng này, bất kể tuổi, thu nhập hay học vấn.4 Các yếu tố được nhắc đến nhiều gồm sự sụt giảm nhanh của hormone estrogen và progesterone sau sinh, tình trạng thiếu ngủ, áp lực chăm em bé và yếu tố di truyền.1 Cơ chế sinh học cụ thể đến nay vẫn chưa được hiểu đầy đủ.

Một tổng quan bao trùm (umbrella review) năm 2020 đã tổng hợp 21 tổng quan hệ thống và phân tích gộp về yếu tố nguy cơ.8 Các yếu tố gặp nhiều nhất là căng thẳng lớn trong cuộc sống, thiếu hỗ trợ xã hội, đang hoặc từng bị bạo hành, trầm cảm khi mang thai và không hài lòng với hôn nhân. Hai yếu tố mạnh nhất là trầm cảm trong thai kỳ và đang bị bạo hành.8 Đây là các yếu tố có liên quan, không dùng để đoán một người cụ thể có bị hay không.

Tiền sử bản thân hoặc gia đình có trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, hay từng trầm cảm ở lần mang thai trước cũng làm tăng nguy cơ.4 NHS kể thêm sinh non, em bé không khỏe, sinh đôi hoặc sinh nhiều con, và vừa trải qua biến cố như mất việc hay mất người thân.3 NIMH khuyên người từng có trầm cảm chu sinh trao đổi với nhân viên y tế để lập kế hoạch theo dõi, phòng khi giai đoạn trầm cảm quay lại.4

Các nghiên cứu ở Việt Nam ghi nhận những nhóm yếu tố tương tự, gồm đặc điểm của người mẹ, quan hệ gia đình và môi trường sống.7 Trong đó, quan hệ gia đình không tốt và thiếu sự hỗ trợ của gia đình là những yếu tố nổi bật. Nhóm tác giả đề xuất nghiên cứu thêm về các yếu tố văn hóa như tục ở cữ sau sinh hay mong muốn có con trai.7 Hiện chưa đủ dữ liệu để kết luận những yếu tố văn hóa này làm tăng nguy cơ ở người Việt.

Trầm cảm sau sinh ảnh hưởng thế nào đến mẹ và con?

Trầm cảm sau sinh không được điều trị có liên quan đến nhiều khó khăn cho cả mẹ và con. Một tổng quan hệ thống năm 2019 tổng hợp 122 nghiên cứu về hậu quả của trầm cảm sau sinh chưa điều trị.9 Ở người mẹ, các nghiên cứu ghi nhận ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, các mối quan hệ và hành vi nguy cơ. Ở em bé, kết quả liên quan đến giấc ngủ, sức khỏe thể chất và sự phát triển vận động, nhận thức, ngôn ngữ, cảm xúc, xã hội.9

Sự tương tác giữa mẹ và con cũng bị ảnh hưởng, gồm sự gắn bó, việc cho con bú và cách người mẹ đảm nhận vai trò của mình.9 WHO lưu ý rằng khi kéo dài hoặc nặng, các rối loạn tâm thần ở người mẹ cản trở sự gắn bó mẹ con, việc nuôi con bằng sữa mẹ và chăm sóc trẻ.6 Những kết quả kiểu này cần được hiểu là mối liên quan, vì không thể chỉ định ngẫu nhiên ai bị trầm cảm. Nghèo khó, xung đột gia đình hay thiếu hỗ trợ có thể cùng lúc ảnh hưởng đến cả mẹ lẫn con.

Các lĩnh vực trầm cảm sau sinh chưa điều trị có liên quan: sức khỏe người mẹ, sức khỏe và phát triển của em bé, sự gắn bó và cho con bú

Điều đáng mừng là điều trị giúp ích cho cả hai mẹ con. Theo WHO, bằng chứng cho thấy điều trị trầm cảm cho người mẹ giúp trẻ sơ sinh tăng trưởng và phát triển tốt hơn.6 Tổng quan lâm sàng năm 2025 cũng ghi nhận khi triệu chứng của mẹ thuyên giảm, nguy cơ trẻ gặp vấn đề hành vi và tâm thần giảm đi.1 Ngược lại, điều trị muộn là một yếu tố quan trọng khiến trầm cảm kéo dài, và khoảng 25% người có trầm cảm chu sinh vẫn còn triệu chứng ba năm sau sinh.1

Người cha có bị trầm cảm sau sinh không?

Có. Trầm cảm quanh thời điểm có con không chỉ xảy ra ở người mẹ, và NHS ghi rõ người cha hoặc bạn đời cũng có thể bị trầm cảm sau khi em bé ra đời.3 Một phân tích gộp năm 2010 tổng hợp 43 nghiên cứu với hơn 28.000 người tham gia và ước tính khoảng 10% người cha có trầm cảm trong giai đoạn từ thai kỳ đến năm đầu sau sinh.10 Tỷ lệ cao hơn ở khoảng 3 đến 6 tháng sau sinh.10

Một phân tích gộp cập nhật năm 2016, gồm 74 nghiên cứu và hơn 41.000 người tham gia, ước tính tỷ lệ khoảng 8,4%.11 Tỷ lệ thay đổi theo năm công bố, nơi nghiên cứu, cách đo và việc người mẹ có trầm cảm hay không.11 Phân tích năm 2010 còn ghi nhận trầm cảm ở cha và ở mẹ có tương quan thuận ở mức vừa.10 Nói cách khác, khi một người trong nhà đang chật vật, người còn lại cũng cần được hỏi han, chứ không chỉ được giao vai “người hỗ trợ”.

Hai phân tích gộp ước tính khoảng 10% người cha có trầm cảm năm 2010 và khoảng 8,4% năm 2016

Sàng lọc trầm cảm sau sinh diễn ra thế nào?

Sàng lọc là bước nhân viên y tế dùng bảng hỏi ngắn để tìm người cần được đánh giá kỹ hơn, không phải để chẩn đoán. Công cụ được dùng nhiều nhất là Thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale, EPDS), một bảng hỏi tự trả lời gồm 10 mục.1 Một số hiệp hội chuyên môn ở Mỹ khuyến nghị sàng lọc cho mọi người trong thai kỳ và sau sinh. Khi kết quả sàng lọc đáng lo ngại, bước tiếp theo là một buổi đánh giá lâm sàng đầy đủ.1

Điểm số trên một bảng hỏi không thay được buổi trò chuyện với chuyên gia. Ngay trong các nghiên cứu ở Việt Nam, EPDS đã được dùng với những ngưỡng điểm khác nhau, cho ra tỷ lệ chênh nhau gần gấp đôi ở cùng thời điểm sáu tháng sau sinh.7 Vì vậy, bài này không đưa thang điểm để tự chấm. Nếu thấy lo, bạn có thể hỏi bác sĩ sản khoa, nữ hộ sinh hay bác sĩ của em bé trong các lần tái khám.

Nhiều trường hợp vẫn không được phát hiện. Tổng quan lâm sàng năm 2025 ước tính có tới một nửa số ca trầm cảm chu sinh không được chẩn đoán, một phần vì người mẹ ngại chia sẻ do sợ bị kỳ thị hay bị bỏ mặc.1 NHS lưu ý nhiều người sợ bị đưa con đi nếu nói thật cảm xúc của mình, nhưng điều này rất hiếm, và đội ngũ y tế sẽ hỗ trợ để người mẹ chăm con.3 Lời khuyên này đến từ hệ thống y tế Anh, nhưng tinh thần chung vẫn đúng: nói ra là để được giúp.

Sàng lọc trầm cảm sau sinh là bước dùng bảng hỏi ngắn, sau đó là đánh giá lâm sàng đầy đủ, và có thể hỏi bác sĩ sản khoa, nữ hộ sinh hoặc bác sĩ của em bé

Với người có nguy cơ cao, phòng ngừa cũng có bằng chứng. Năm 2019, Nhóm Đặc nhiệm Dịch vụ Dự phòng Hoa Kỳ (USPSTF) khuyến nghị nhân viên y tế cung cấp hoặc giới thiệu tư vấn tâm lý cho người mang thai và sau sinh có nguy cơ tăng.12 Các can thiệp được nghiên cứu chủ yếu là liệu pháp nhận thức hành vi và liệu pháp tương tác cá nhân. Nhóm này cũng nói rõ chưa có công cụ chính xác để xác định ai có nguy cơ, và khuyến nghị đang được cập nhật.12

Trầm cảm sau sinh được điều trị ra sao?

Trầm cảm sau sinh có thể điều trị, và với điều trị phù hợp, phần lớn người mẹ thấy khá hơn.4 Tùy mức độ, chuyên gia có thể dùng trị liệu tâm lý, thuốc chống trầm cảm hoặc kết hợp cả hai. Hai liệu pháp có bằng chứng là liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) và liệu pháp tương tác cá nhân (IPT), tức liệu pháp tập trung vào các mối quan hệ và sự hỗ trợ xung quanh.4 Theo tổng quan lâm sàng năm 2025, trị liệu tâm lý là lựa chọn đầu tay khi trầm cảm ở mức nhẹ đến vừa.1

Một phân tích gộp năm 2023 tổng hợp 43 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với 6.270 người tham gia về trị liệu tâm lý cho trầm cảm chu sinh.13 Trị liệu tâm lý giảm triệu chứng nhiều hơn nhóm đối chứng với cỡ hiệu ứng ở mức vừa, và hiệu quả còn duy trì sau 6 đến 12 tháng. Kết quả cũng gợi ý lợi ích về hỗ trợ xã hội, lo âu, căng thẳng làm cha mẹ và căng thẳng vợ chồng. Dù vậy, các nghiên cứu khác nhau khá nhiều, nên nhóm tác giả dùng cụm từ thận trọng “nhiều khả năng có hiệu quả”.13

Nếu cần dùng thuốc, quyết định nên được đưa ra cùng bác sĩ, có tính đến việc mang thai hay cho con bú. NHS cho biết nhiều thuốc chống trầm cảm có thể dùng khi cho con bú, và người mẹ nên báo với bác sĩ để được kê loại phù hợp.3 Tại Mỹ, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã phê duyệt hai thuốc dành riêng cho trầm cảm sau sinh, nhưng chỉ định ở Việt Nam có thể khác.4 Mọi quyết định bắt đầu, ngừng hay đổi thuốc cần do bác sĩ kê đơn đưa ra.

Về diễn tiến, NHS cho biết trầm cảm sau sinh thường cải thiện trong 3 đến 6 tháng, nhưng đôi khi kéo dài hơn nhiều, và khả năng khá lên cao hơn khi được điều trị.3 Từng có một giai đoạn trầm cảm chu sinh cũng làm tăng nguy cơ trầm cảm về sau, kể cả ở lần sinh tiếp theo.1 Vì thế, nếu dự định có thêm con, kế hoạch theo dõi là điều nên bàn sớm với chuyên gia.

Người thân có thể giúp gì?

Người thân thường là người nhận ra dấu hiệu trước tiên. NIMH cho biết vợ hoặc chồng, gia đình và bạn bè có thể là những người đầu tiên thấy người mẹ khác đi.4 Những cách giúp được NIMH gợi ý gồm khuyến khích người mẹ trao đổi với nhân viên y tế, đưa đi khám, hỗ trợ tinh thần và giúp những việc cụ thể như trông em bé hay việc nhà.4 Ví dụ, người chồng có thể nhận một cữ bú đêm bằng sữa vắt sẵn để người mẹ ngủ liền vài tiếng.

Cách nói cũng quan trọng không kém việc làm. Những câu như “ai sinh con chẳng mệt” hay “cố lên vì con” dễ khiến người mẹ thấy mình bị phán xét và càng im lặng. Thay vào đó, người thân có thể hỏi han, lắng nghe và nhắc rằng đây là một tình trạng sức khỏe có thể điều trị, không phải lỗi của ai.4 Một nghiên cứu phỏng vấn sâu ở Việt Nam cũng nhắc đến sự đồng thuận giữa vợ chồng và mẹ chồng trong việc nuôi con như một yếu tố liên quan.7

Sáu cách người thân có thể giúp người mẹ có dấu hiệu trầm cảm sau sinh

Bản thân người mẹ cũng có thể làm một số việc nhỏ để đỡ hơn. NHS gợi ý chia sẻ cảm xúc với người tin cậy, nhờ giúp việc nhà, đi bộ ngắn mỗi ngày, ngủ và nghỉ nhiều nhất có thể, và dành chút thời gian cho điều mình thích.3 NHS cũng khuyên không dùng rượu bia hay chất cấm để đối phó với cảm xúc. Những việc này chỉ hỗ trợ thêm, không thay cho việc đi khám khi triệu chứng đã ảnh hưởng đến sinh hoạt.

Khi nào nên gặp chuyên gia?

Bạn nên gặp bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần khi buồn bã, lo âu hay mất hứng thú kéo dài quá hai tuần sau sinh, hoặc ngày càng nặng hơn. Việc thăm khám cũng cần thiết khi bạn thấy khó chăm sóc bản thân hay em bé. NHS khuyến khích tìm giúp đỡ ngay cả khi chỉ có một vài dấu hiệu, vì khả năng khá lên cao hơn khi được điều trị.3 Bạn có thể bắt đầu từ bác sĩ sản khoa, nữ hộ sinh, bác sĩ đa khoa hoặc cơ sở chuyên khoa tâm thần.

WHO lưu ý rằng tự sát là một nguyên nhân tử vong quan trọng ở phụ nữ mang thai và sau sinh.6 Nếu bạn hoặc người thân có ý nghĩ về cái chết, về việc làm hại bản thân hay em bé, hãy nói với một người đáng tin cậy. Sau đó, hãy đến cơ sở y tế gần nhất hoặc gọi cấp cứu 115. Khi có nguy hiểm tức thời, hãy gọi công an qua số 113. Trầm cảm sau sinh có thể điều trị, và tìm giúp đỡ là một bước an toàn, không có nghĩa bạn là người mẹ không tốt.

Khi nào nên đi khám sớm và khi nào cần hỗ trợ ngay với trầm cảm sau sinh, kèm số 115 và 113

Bài viết giúp bạn hiểu cách giới chuyên môn mô tả trầm cảm sau sinh và baby blues, không phải công cụ để tự chẩn đoán. Thông tin về thuốc chỉ mang tính tham khảo, không thay thế việc thăm khám và chỉ định của bác sĩ.

Nếu bạn đang cân nhắc trị liệu tâm lý, bài viết về trị liệu tâm lý mất bao lâu giải thích vì sao số buổi khác nhau giữa từng người. Mối quan hệ tin cậy giữa bạn và nhà trị liệu cũng ảnh hưởng đến quá trình này, như bài về liên minh trị liệu đã phân tích. Kế hoạch cụ thể nên được bàn với chuyên gia sau khi bạn được đánh giá đầy đủ.

Tài liệu tham khảo học thuật

1. Carlson, K., et al. (2025). Perinatal depression. Xem nguồn

2. World Health Organization. (2025). 6E20 Mental or behavioural disorders associated with pregnancy, childbirth or the puerperium, without psychotic symptoms. Xem nguồn

3. NHS. (2026). Postnatal depression. Xem nguồn

4. National Institute of Mental Health. (2023). Perinatal depression. Xem nguồn

5. Wang, Z., et al. (2021). Mapping global prevalence of depression among postpartum women. Xem nguồn

6. World Health Organization. (n.d.). Perinatal mental health. Xem nguồn

7. Nguyen, H. T. T., et al. (2021). The rate and risk factors of postpartum depression in Vietnam from 2010 to 2020: A literature review. Xem nguồn

8. Hutchens, B. F., & Kearney, J. (2020). Risk factors for postpartum depression: An umbrella review. Xem nguồn

9. Slomian, J., et al. (2019). Consequences of maternal postpartum depression: A systematic review of maternal and infant outcomes. Xem nguồn

10. Paulson, J. F., & Bazemore, S. D. (2010). Prenatal and postpartum depression in fathers and its association with maternal depression: A meta-analysis. Xem nguồn

11. Cameron, E. E., et al. (2016). Prevalence of paternal depression in pregnancy and the postpartum: An updated meta-analysis. Xem nguồn

12. US Preventive Services Task Force. (2019). Perinatal depression: Preventive interventions. Xem nguồn

13. Cuijpers, P., et al. (2023). Psychological treatment of perinatal depression: A meta-analysis. Xem nguồn

Đọc tiếp

Nội dung liên quan