Rối loạn tâm lý

Trầm cảm theo mùa: Rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD) là gì?

Trầm cảm lặp lại theo mùa không phải chẩn đoán riêng. Bài giải thích cách DSM-5-TR, ICD-11 mô tả, yếu tố vĩ độ và bằng chứng về liệu pháp ánh sáng.

Tranh màu nước: cửa sổ nửa chiều đông xám, nửa ánh xuân, chiếc ghế trống bên cạnh; chữ Trầm cảm theo mùa

Có những người năm nào cũng thấy mình chùng xuống vào cùng một mùa, ngủ nhiều hơn, thèm đồ ngọt, mệt rã rời, rồi lại khá lên khi mùa đổi. Khi kiểu thay đổi này đủ nặng để thành những giai đoạn trầm cảm lặp lại theo mùa, giới chuyên môn gọi đó là trầm cảm theo mùa, hay rối loạn cảm xúc theo mùa (seasonal affective disorder, SAD). Đây không phải một chẩn đoán riêng mà là một kiểu diễn tiến của trầm cảm hoặc rối loạn lưỡng cực, thường gặp nhất vào mùa đông ở những nước xa xích đạo. Cùng Trần Toàn Psy tìm hiểu nhé!

Trầm cảm theo mùa là gì?

Trầm cảm theo mùa là cách gọi đời thường của rối loạn cảm xúc theo mùa, tức các giai đoạn trầm cảm lặp lại vào một thời điểm nhất định trong năm và thuyên giảm rõ khi sang mùa khác. Kiểu thường gặp nhất bắt đầu vào cuối thu hoặc mùa đông và dịu đi vào mùa xuân hay mùa hè. Khái niệm này được mô tả lần đầu vào năm 1984 và từ đó trở thành chủ đề của nhiều nghiên cứu về ánh sáng và nhịp sinh học.1

Về triệu chứng, trầm cảm theo mùa vẫn là trầm cảm. Người ở giai đoạn này có khí sắc (tâm trạng) buồn, trống rỗng hoặc dễ cáu, hay mất hứng thú với việc từng thích, kéo dài gần như cả ngày, hầu như mỗi ngày, trong ít nhất hai tuần. Các biểu hiện khác có thể gồm khó tập trung, cảm giác tội lỗi hoặc vô giá trị, ngủ không ổn, thay đổi khẩu vị và mệt mỏi.2 Điểm riêng nằm ở nhịp lặp lại theo mùa, không nằm ở một triệu chứng đặc biệt nào.

DSM-5-TR và ICD-11 xếp trầm cảm theo mùa ở đâu?

Trong DSM-5-TR của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, trầm cảm theo mùa không phải một rối loạn riêng. Nó được ghi bằng đặc điểm chỉ định (specifier) “với kiểu theo mùa” (with seasonal pattern), gắn vào chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu hoặc rối loạn lưỡng cực.1 Nói cách khác, người đó trước hết phải đáp ứng tiêu chí của một trong hai rối loạn này, rồi chuyên gia mới xét đến yếu tố mùa.

Theo một bản tóm lược tiêu chí năm 2024, các giai đoạn trầm cảm phải khởi phát đều đặn vào một mùa nhất định và thuyên giảm hoặc nhẹ đi rõ rệt vào một thời điểm đặc trưng trong năm.1 Trong hai năm gần nhất, các giai đoạn này phải gắn rõ với mùa, và không có giai đoạn cùng loại xảy ra ngoài mùa. Ngoài ra, xét trong cả đời, các giai đoạn theo mùa phải chiếm ưu thế so với các giai đoạn không theo mùa.

ICD-11 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng không coi đây là một rối loạn riêng. Mã 6A80.4 có tên kiểu khởi phát giai đoạn khí sắc theo mùa (seasonal pattern of mood episode onset). Đây là mã bổ sung dùng kèm rối loạn trầm cảm tái diễn hoặc rối loạn lưỡng cực type I, type II, và không bao giờ được dùng làm mã chẩn đoán chính.3 Mã này mô tả kiểu khởi phát và thuyên giảm đều đặn theo mùa, với phần lớn các giai đoạn liên quan đi theo kiểu đó.

Điểm so sánhDSM-5-TRICD-11
Tên gọiĐặc điểm chỉ định “với kiểu theo mùa”Kiểu khởi phát giai đoạn khí sắc theo mùa (6A80.4)
Có phải chẩn đoán riêng?KhôngKhông, chỉ là mã bổ sung
Dùng kèm chẩn đoán nào?Rối loạn trầm cảm chủ yếu, rối loạn lưỡng cựcRối loạn trầm cảm tái diễn, rối loạn lưỡng cực type I và type II
Cách mô tả thời gianHai năm gần nhất gắn rõ với mùa, các giai đoạn theo mùa chiếm ưu thế trong cả đờiKhởi phát và thuyên giảm đều đặn theo mùa, phần lớn giai đoạn đi theo kiểu này

ICD-11 còn lưu ý phân biệt kiểu theo mùa với một giai đoạn chỉ tình cờ rơi vào một mùa nhưng chủ yếu do tác nhân gây stress lặp lại vào thời điểm đó. Ví dụ WHO đưa ra là thất nghiệp theo mùa vụ.3 Hai hệ thống giống nhau ở điểm cốt lõi là coi mùa như một đặc điểm của diễn tiến, không phải một bệnh riêng. Khác biệt chủ yếu nằm ở cách ghi mã và mức chi tiết của mốc thời gian.

Kiểu mùa đông và kiểu mùa hè khác nhau thế nào?

Kiểu mùa đông thường kèm những biểu hiện ngược với hình ảnh quen thuộc của trầm cảm. Người ở kiểu này có thể ngủ nhiều hơn bình thường, ăn nhiều hơn, thèm tinh bột và đồ ngọt, tăng cân, và muốn thu mình như đang “ngủ đông”.4 Các triệu chứng thường kéo dài khoảng bốn đến năm tháng mỗi năm. Kiểu này thường khởi phát ở tuổi trưởng thành sớm và gặp ở nữ nhiều hơn nam.1 Ví dụ minh họa: cứ cuối thu, một người có thể ngủ li bì, thèm trà sữa, bánh ngọt và ngại ra khỏi nhà suốt nhiều tuần.

Kiểu mùa hè ít gặp hơn và cũng được nghiên cứu ít hơn. Biểu hiện thường gồm khó ngủ, chán ăn, sụt cân, bồn chồn, lo âu, đôi khi kèm hành vi gây hấn.4 Hiện chưa có phương pháp điều trị dành riêng cho kiểu mùa hè, nên chuyên gia thường dựa vào các cách điều trị trầm cảm nói chung như trị liệu tâm lý và thuốc. Một số người còn trải qua giai đoạn tràn năng lượng hơn bình thường khi xuân hè đến.5

So sánh hai kiểu trầm cảm theo mùa: kiểu mùa đông thường ngủ nhiều, ăn nhiều, kéo dài khoảng bốn đến năm tháng mỗi năm, kiểu mùa hè ít gặp hơn với khó ngủ, chán ăn, bồn chồn

Ở người có rối loạn lưỡng cực, kiểu theo mùa có thể gồm cả giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ, không chỉ trầm cảm. Một tổng quan lâm sàng năm 2024 ghi nhận kiểu theo mùa gặp ở khoảng 15% đến 25% người có rối loạn lưỡng cực, và phổ biến hơn ở rối loạn lưỡng cực type II.1 Vì vậy, một giai đoạn hưng phấn, ít ngủ mà vẫn thấy khỏe vào mùa xuân cũng là thông tin quan trọng cần kể với bác sĩ.

Làm sao phân biệt trầm cảm theo mùa với cảm giác uể oải khi trời âm u?

Không phải mọi sự uể oải khi trời âm u hay cuối năm đều là trầm cảm theo mùa. Trang thông tin của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ phân biệt kiểu mùa đông với nỗi buồn hay lo âu do áp lực của những dịp nhất định trong năm.4 Trầm cảm theo mùa gắn với thay đổi độ dài ngày chứ không gắn với lịch. Theo cách phân biệt này, áp lực quanh dịp lễ Tết, mùa thi hay lịch làm việc thay đổi theo mùa không phải là cùng một hiện tượng.

Khi đánh giá, chuyên gia còn cần loại trừ những tình trạng có biểu hiện tương tự. Tổng quan lâm sàng năm 2024 nói trên liệt kê trầm cảm không theo mùa, rối loạn lưỡng cực, rối loạn thích ứng, rối loạn trầm cảm dai dẳng, lo âu lan tỏa và rối loạn sử dụng chất.1 Một số bệnh cơ thể như suy giáp hay thiếu hụt vitamin cũng có thể gây khí sắc thấp dao động theo mùa. Vì thế, khám sức khỏe tổng quát thường là một phần của quá trình đánh giá.

Vì chẩn đoán dựa trên tiền sử nhiều năm, một mùa khó khăn đơn lẻ chưa đủ để kết luận. Bảng hỏi về thay đổi theo mùa chỉ là công cụ sàng lọc, và bảng hỏi phổ biến nhất bị phê bình vì dễ xếp quá nhiều người vào nhóm có vấn đề.1 Nếu bạn thấy mình chùng xuống đều đặn vào một mùa, ghi lại giấc ngủ, ăn uống, năng lượng và tâm trạng qua các tháng sẽ giúp buổi trao đổi với chuyên gia rõ ràng hơn.

Vì sao trầm cảm lại đi theo mùa?

Nguyên nhân chính xác của trầm cảm theo mùa vẫn chưa rõ, và các giải thích hiện có phần lớn là giả thuyết. Giả thuyết được nhắc nhiều nhất liên quan đến nhịp sinh học (circadian rhythm), tức chiếc đồng hồ khoảng 24 giờ điều chỉnh giấc ngủ, hormone và năng lượng. Khi ngày ngắn lại, cơ thể có thể tiết melatonin, một hormone liên quan đến giấc ngủ, trong thời gian dài hơn. Nhịp sinh học cũng có thể bị lệch so với giờ ngủ thức.1

Một hướng giải thích khác liên quan đến serotonin, chất dẫn truyền thần kinh tham gia điều hòa khí sắc. Một số nghiên cứu ghi nhận hoạt động serotonin giảm ở người có kiểu mùa đông. Thiếu vitamin D cũng được cho là có thể làm triệu chứng nặng thêm, vì cơ thể tạo vitamin D khi da tiếp xúc ánh nắng.4 Các cơ chế này chưa được kiểm chứng đầy đủ, và các nghiên cứu về gen cũng cho kết quả chưa nhất quán.1

Yếu tố tâm lý cũng có vai trò. Những suy nghĩ tiêu cực về mùa đông hay mùa hè, cũng như về những hạn chế mà mùa ấy mang lại, thường gặp ở người có trầm cảm theo mùa. Tuy vậy, đây vẫn là câu hỏi “con gà hay quả trứng”: suy nghĩ tiêu cực là nguyên nhân hay hệ quả?4 Người có người thân mắc rối loạn khí sắc cũng dễ gặp tình trạng này hơn.1 Góc nhìn tâm lý này giải thích vì sao trị liệu tâm lý có chỗ đứng bên cạnh các phương pháp dựa vào ánh sáng.

Bốn hướng giải thích trầm cảm theo mùa, phần lớn là giả thuyết: nhịp sinh học, serotonin, vitamin D và yếu tố tâm lý

Người sống ở Việt Nam có bị trầm cảm theo mùa không?

Có thể có, nhưng bằng chứng hiện nay chủ yếu đến từ các nước ôn đới và chưa đủ để ước tính tỷ lệ cho người Việt. Tổng quan lâm sàng năm 2024 ghi nhận tỷ lệ dao động từ 1% đến 10% tùy vĩ độ và cách đánh giá.1 Một khảo sát ở Mỹ được nhóm tác giả dẫn lại ghi nhận tỷ lệ 9,7% ở New Hampshire so với 1,4% ở Florida, bang gần xích đạo hơn. Cũng theo nhóm này, phần lớn dữ liệu dịch tễ (tức số liệu về mức độ phổ biến) đã cũ khoảng hai thập kỷ.

Một phân tích gộp năm 2025 tổng hợp 24 nghiên cứu cắt ngang với 32.866 người tham gia.6 Tỷ lệ gộp là khoảng 5% với trầm cảm theo mùa, 9,4% với dạng dưới ngưỡng (tức có triệu chứng nhưng chưa đủ tiêu chí chẩn đoán) và 0,6% với kiểu mùa hè. Vĩ độ càng cao thì kiểu mùa đông và dạng dưới ngưỡng càng phổ biến, nhưng không ghi nhận mối liên hệ này ở kiểu mùa hè. Các nghiên cứu được gộp đều dùng một bảng hỏi tự báo cáo thay cho phỏng vấn chẩn đoán, nên các con số có thể cao hơn thực tế.

Không phải nghiên cứu nào cũng ghi nhận vĩ độ có vai trò lớn đến vậy. Một tổng quan năm 1999 không ghi nhận tương quan có ý nghĩa giữa tỷ lệ và vĩ độ khi xét mọi nghiên cứu, mà chỉ thấy rõ ở Bắc Mỹ.7 Nhóm tác giả cho rằng khí hậu, tính dễ tổn thương di truyền và bối cảnh văn hóa xã hội có thể quan trọng hơn. Một tổng quan hệ thống khác, chỉ chọn các nghiên cứu không hỏi thẳng người tham gia về mùa, tìm được 13 trên 41 nghiên cứu ghi nhận trầm cảm nhiều hơn vào mùa đông.8

Ở châu Á, khó khăn theo mùa có thể không theo cùng hướng với phương Tây. Khảo sát trên 1.358 sinh viên y khoa ở Trung Quốc ghi nhận khó khăn vào mùa hè nhiều hơn mùa đông, với ước tính 4,4% kiểu mùa hè so với 2,4% kiểu mùa đông.9 Đây là một mẫu sinh viên ở một thành phố và cũng dựa trên bảng hỏi tự báo cáo. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, nên tỷ lệ của Bắc Mỹ, châu Âu hay Trung Quốc không thể thay cho số liệu trong nước, và tỷ lệ ở người Việt vẫn là câu hỏi chưa có lời đáp.

Các tỷ lệ trầm cảm theo mùa: 1% đến 10% tùy vĩ độ, khoảng 5% theo phân tích gộp năm 2025, 4,4% kiểu mùa hè ở sinh viên y khoa Trung Quốc, chưa có số liệu đủ cho người Việt

Trầm cảm theo mùa có tự hết khi đổi mùa không?

Triệu chứng thường dịu đi khi mùa thay đổi, nhưng điều đó không có nghĩa là vấn đề đã được giải quyết. Tổng quan lâm sàng năm 2024 ghi nhận tỷ lệ tái phát từ mùa đông này sang mùa đông sau vào khoảng 50% đến 70%.1 Ở chiều ngược lại, dưới một nửa số người còn giữ kiểu trầm cảm theo mùa sau vài năm, và một phần đáng kể hồi phục mà không có giai đoạn mới. Vì một giai đoạn trầm cảm có thể kéo dài nhiều tháng, chờ mùa đổi không phải là cách đối phó an toàn.

Liệu pháp ánh sáng có hiệu quả không?

Liệu pháp ánh sáng (light therapy) là phương pháp cho người có triệu chứng tiếp xúc với nguồn sáng nhân tạo cường độ cao theo chỉ định, nhằm bù cho lượng ánh sáng tự nhiên giảm đi vào mùa tối. Từ những năm 1980, đây là một trong những phương pháp chính cho kiểu mùa đông.4 Ánh sáng được cho là tác động qua nhịp sinh học và qua các tế bào nhạy sáng ở võng mạc. Cơ chế chính xác vẫn đang được nghiên cứu.1

Bằng chứng tổng hợp ủng hộ hiệu quả của liệu pháp này ở mức vừa phải. Một phân tích gộp năm 2020 gồm 19 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên người lớn, so sánh ánh sáng mạnh với ánh sáng mờ hoặc thiết bị giả.10 Ánh sáng mạnh giảm điểm trầm cảm nhiều hơn, với cỡ hiệu ứng (tức độ lớn của khác biệt) nhỏ đến vừa, và khả năng đáp ứng điều trị cao hơn khoảng 1,4 lần. Tuy vậy, các thử nghiệm có cỡ mẫu nhỏ đến trung bình, khác nhau về thiết kế và có nguy cơ sai lệch từ vừa đến cao.

Vì những giới hạn đó, các cơ quan y tế đánh giá khác nhau. Trang thông tin của Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) lưu ý liệu pháp ánh sáng thường không được cung cấp trong hệ thống y tế công của Anh.5 Lý do là chưa đủ bằng chứng để khẳng định hiệu quả, dù nhiều người thấy có ích. Trong khi đó, Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ vẫn xem đây là phương pháp chủ lực cho kiểu mùa đông.4 Hai cách nhìn này gợi ý rằng liệu pháp ánh sáng có cơ sở, nhưng chưa chắc hiệu quả với mọi người.

Dùng ánh sáng để phòng ngừa trước khi mùa đến thì bằng chứng còn yếu hơn. Năm 2019, một tổng quan của Cochrane, tổ chức chuyên tổng hợp bằng chứng y học, sàng lọc hơn 3.700 tài liệu nhưng chỉ tìm được một thử nghiệm phù hợp với 46 người.11 Kết quả vẫn chưa trả lời được câu hỏi ánh sáng có giúp phòng giai đoạn mới hay không, và chất lượng bằng chứng được đánh giá là rất thấp. Nhóm tác giả nhận định quyết định phòng ngừa nên dựa nhiều vào mong muốn của chính người từng có trầm cảm theo mùa.

Liệu pháp ánh sáng: phân tích gộp 19 thử nghiệm cho hiệu quả nhỏ đến vừa khi điều trị, còn việc phòng ngừa chỉ có một thử nghiệm 46 người với chất lượng bằng chứng rất thấp

Liệu pháp ánh sáng nhìn chung được dung nạp tốt, với tác dụng phụ thường nhẹ và thoáng qua như đau đầu, mỏi mắt. Tổng quan lâm sàng năm 2024 khuyên người có bệnh mắt sẵn có nên được bác sĩ nhãn khoa đánh giá trước.1 Người có bệnh mắt hoặc đang dùng thuốc làm tăng nhạy cảm với ánh sáng có thể cần lựa chọn khác, hoặc chỉ dùng dưới sự theo dõi y tế.4 Ngoài ra, liệu pháp này chưa có bằng chứng hỗ trợ cho giai đoạn hưng cảm theo mùa.1

Với người có rối loạn lưỡng cực, điều cần cân nhắc là nguy cơ chuyển sang hưng cảm. Một phân tích gộp năm 2020 trên 7 thử nghiệm với 259 người ghi nhận ánh sáng dùng bổ sung cho điều trị hiện có giúp giảm triệu chứng trầm cảm, và không làm tăng rõ tỷ lệ chuyển pha.12 Còn một tổng quan năm 2018 ghi nhận tỷ lệ chuyển sang hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ thấp, nhưng lên gần 19% ở 16 người có chu kỳ nhanh.13 Vì vậy, người có rối loạn lưỡng cực chỉ nên cân nhắc liệu pháp này cùng bác sĩ điều trị.

Bài viết không hướng dẫn cách tự dùng đèn trị liệu. Cường độ, thời điểm và thời lượng chiếu sáng cần được chuyên gia chỉ định theo tình trạng từng người, nhất là khi bạn có rối loạn lưỡng cực, bệnh mắt hoặc đang dùng thuốc.

Ngoài ánh sáng, chuyên gia có thể dùng những cách nào?

Liệu pháp nhận thức hành vi (cognitive behavioral therapy, CBT) được điều chỉnh riêng cho trầm cảm theo mùa là một lựa chọn có bằng chứng. Phương pháp này giúp người tham gia nhận ra và thay đổi những suy nghĩ tiêu cực gắn với mùa. Nó cũng dùng kỹ thuật hoạt hóa hành vi, tức lên lịch các hoạt động dễ chịu để bù cho sự mất hứng thú. Theo Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ, chương trình này thường diễn ra theo nhóm, hai buổi mỗi tuần trong sáu tuần.4

Một thử nghiệm ngẫu nhiên năm 2015 trên 177 người lớn ghi nhận CBT dành cho trầm cảm theo mùa và liệu pháp ánh sáng cải thiện triệu chứng tương đương sau sáu tuần.14 Tỷ lệ thuyên giảm theo đánh giá của chuyên gia gần như bằng nhau, khoảng 47% ở cả hai nhóm. Khi theo dõi tiếp, hai nhóm không khác nhau ở mùa đông đầu tiên. Đến mùa đông thứ hai, nhóm CBT tái phát ít hơn, 27,3% so với 45,6%.15

So sánh CBT và liệu pháp ánh sáng: cùng khoảng 47% thuyên giảm sau sáu tuần, đến mùa đông thứ hai nhóm CBT tái phát 27,3% so với 45,6%

Đây là kết quả từ một thử nghiệm lớn, nhưng vẫn cần thêm nghiên cứu ở các nhóm dân cư khác để khẳng định. Ý nghĩa thực tế là trị liệu tâm lý có thể được cân nhắc như một lựa chọn ngang với ánh sáng trong giai đoạn cấp. Riêng việc dùng trị liệu tâm lý để phòng ngừa trước mùa thì bằng chứng còn rất hạn chế. Một tổng quan Cochrane năm 2019 chỉ tìm được một thử nghiệm nhỏ về liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm, với kết quả chưa đủ để kết luận.16

Thuốc chống trầm cảm cũng được dùng cho trầm cảm theo mùa, dùng riêng hoặc phối hợp với trị liệu tâm lý.4 Tuy vậy, một tổng quan Cochrane năm 2021 chỉ tìm được ba thử nghiệm nhỏ với 204 người.17 Fluoxetine cho kết quả nhỉnh hơn giả dược nhưng chưa có ý nghĩa thống kê, và tương đương liệu pháp ánh sáng, với độ tin cậy của bằng chứng ở mức thấp đến rất thấp. Tỷ lệ ngừng sớm vì tác dụng không mong muốn lên tới 25% ở một số nghiên cứu.

Tại Mỹ, một dạng giải phóng kéo dài của bupropion được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) phê duyệt để phòng tái phát giai đoạn trầm cảm theo mùa.4 Chỉ định ở Việt Nam có thể khác, và mọi quyết định dùng, ngừng hay đổi thuốc cần do bác sĩ kê đơn đưa ra. Vitamin D cũng từng được thử nghiệm, nhưng kết quả còn trái chiều, một số nghiên cứu ghi nhận hiệu quả còn số khác không thấy tác dụng.4

Bên cạnh điều trị, trang thông tin của NHS gợi ý một số thói quen có thể hỗ trợ như ra ngoài trời vào ban ngày và vận động đều.5 Giữ liên lạc với bạn bè, người thân và đi ngủ, thức dậy đúng giờ cũng được khuyến khích. NHS cũng khuyên hạn chế rượu bia và không dùng điện thoại ngay trước khi ngủ. Đây là những cách hỗ trợ chung, không thay thế được việc đánh giá và điều trị khi triệu chứng đã ảnh hưởng đến sinh hoạt.

Khi nào nên gặp chuyên gia?

Bạn nên gặp bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần khi khí sắc thấp, mất hứng thú hay mệt mỏi kéo dài hơn hai tuần và ảnh hưởng đến học tập, công việc hoặc các mối quan hệ. Việc thăm khám cũng cần thiết khi cùng một kiểu khó khăn quay lại vào cùng một mùa qua nhiều năm. Nếu bạn từng có giai đoạn hưng phấn, ít ngủ mà không mệt hay hành động bốc đồng, hãy kể rõ điều này, vì nó ảnh hưởng đến lựa chọn điều trị.

Trầm cảm, kể cả trầm cảm theo mùa, có thể đi kèm ý nghĩ về cái chết hoặc tự sát.2 Nếu bạn hoặc người thân có những ý nghĩ này, hãy nói với một người đáng tin cậy và đến cơ sở y tế gần nhất, hoặc gọi cấp cứu 115. Khi có nguy hiểm tức thời, hãy gọi công an qua số 113. Trầm cảm có thể điều trị hiệu quả, và tìm kiếm giúp đỡ là bước an toàn đầu tiên.

Các tiêu chí DSM-5-TR và ICD-11 trong bài giúp bạn hiểu cách giới chuyên môn mô tả trầm cảm theo mùa, không phải công cụ để tự chẩn đoán. Bài viết không thay thế việc thăm khám của bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần.

Nếu bạn đang cân nhắc trị liệu tâm lý cho những mùa khó khăn lặp lại, có thể bạn sẽ thắc mắc cần bao nhiêu buổi. Bài viết về trị liệu tâm lý mất bao lâu giải thích vì sao thời lượng khác nhau giữa từng người và nghiên cứu nói gì về điều đó. Kế hoạch cụ thể nên được bàn với chuyên gia sau khi bạn được đánh giá đầy đủ.

Tài liệu tham khảo học thuật

1. Munir, S., et al. (2024). Seasonal affective disorder. Xem nguồn

2. World Health Organization. (2026). Depressive disorder (depression). Xem nguồn

3. World Health Organization. (2025). 6A80.4 Seasonal pattern of mood episode onset. Xem nguồn

4. National Institute of Mental Health. (2023). Seasonal affective disorder. Xem nguồn

5. NHS. (2025). Seasonal affective disorder (SAD). Xem nguồn

6. Kim, K., et al. (2025). Global prevalence of seasonal affective disorder by latitude: A systematic review and meta-analysis. Xem nguồn

7. Mersch, P. P., et al. (1999). Seasonal affective disorder and latitude: A review of the literature. Xem nguồn

8. Øverland, S., et al. (2019). Seasonality and symptoms of depression: A systematic review of the literature. Xem nguồn

9. Han, L., et al. (2000). Seasonal variations in mood and behavior among Chinese medical students. Xem nguồn

10. Pjrek, E., et al. (2020). The efficacy of light therapy in the treatment of seasonal affective disorder: A meta-analysis of randomized controlled trials. Xem nguồn

11. Nussbaumer-Streit, B., et al. (2019). Light therapy for preventing seasonal affective disorder. Xem nguồn

12. Lam, R. W., et al. (2020). Light therapy for patients with bipolar depression: Systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Xem nguồn

13. Benedetti, F. (2018). Rate of switch from bipolar depression into mania after morning light therapy: A historical review. Xem nguồn

14. Rohan, K. J., et al. (2015). Randomized trial of cognitive-behavioral therapy versus light therapy for seasonal affective disorder: Acute outcomes. Xem nguồn

15. Rohan, K. J., et al. (2016). Outcomes one and two winters following cognitive-behavioral therapy or light therapy for seasonal affective disorder. Xem nguồn

16. Forneris, C. A., et al. (2019). Psychological therapies for preventing seasonal affective disorder. Xem nguồn

17. Nussbaumer-Streit, B., et al. (2021). Second-generation antidepressants for treatment of seasonal affective disorder. Xem nguồn

Đọc tiếp

Nội dung liên quan