Xem phim hay đọc bình luận trên mạng, bạn dễ gặp cách gọi ai đó là “psychopath” hay “sociopath” như thể đó là hai kiểu người được xác định rõ. Thực ra, cả hai từ này đều không phải chẩn đoán chính thức trong DSM-5-TR hay ICD-11. Chẩn đoán gần nhất là rối loạn nhân cách chống đối xã hội, còn “psychopathy” là một khái niệm nghiên cứu với nhiều tranh luận về phạm vi. Cùng Trần Toàn Psy tìm hiểu nhé!
Psychopath và sociopath có phải chẩn đoán chính thức không?
Không, cả hai đều không phải tên chẩn đoán trong các hệ phân loại hiện hành. Trong lịch sử, “psychopath” và “sociopath” thường được dùng thay cho nhau để chỉ những người có nét liên quan đến rối loạn nhân cách chống đối xã hội.1 Rối loạn này xuất hiện trong Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM) từ ấn bản thứ ba năm 1980 và vẫn được giữ trong DSM-5-TR.1
Psychopathy cũng được xem là một rối loạn nhân cách trong nghiên cứu, nhưng không có trong DSM.2 Cách phân biệt phổ biến trên mạng cho rằng psychopath là “bẩm sinh”, còn sociopath là “do môi trường tạo ra”. Các nguồn tổng quan được dùng trong bài không định nghĩa sociopathy như một thực thể riêng theo cách đó. Phần di truyền bên dưới cũng cho thấy cả hai khái niệm đều chịu ảnh hưởng của gen lẫn môi trường.

Rối loạn nhân cách chống đối xã hội là gì?
Rối loạn nhân cách chống đối xã hội (antisocial personality disorder, ASPD) là khuôn mẫu lan tỏa coi thường và xâm phạm quyền của người khác, xuất hiện từ 15 tuổi. Theo DSM-5-TR, khuôn mẫu này phải thể hiện qua ít nhất 3 trong 7 tiêu chí.1 Người được chẩn đoán phải từ 18 tuổi trở lên và có bằng chứng rối loạn hành vi khởi phát trước 15 tuổi. Hành vi chống đối xã hội cũng không chỉ xảy ra trong giai đoạn tâm thần phân liệt hay rối loạn lưỡng cực.1
Các khảo sát cộng đồng ước tính khoảng 1% đến 4% người trong dân số chung từng có ASPD vào một lúc nào đó trong đời. Nam giới được chẩn đoán nhiều hơn nữ giới khoảng 3 đến 5 lần.2 Tỷ lệ này giảm dần theo tuổi, cả trong các nhóm phạm pháp lẫn mẫu dân số chung.2 Một tổng quan lâm sàng ghi nhận khoảng 30% người có ASPD giảm rõ hành vi chống đối xã hội ở độ tuổi 30 đến 40, dù các nét nhân cách bên dưới không nhất thiết mất đi.1
Rối loạn hành vi ở trẻ em là yếu tố nguy cơ quan trọng, nhưng phần lớn trẻ có rối loạn hành vi không phát triển thành ASPD khi lớn.1 Điều này nhắc rằng không nên gán nhãn một đứa trẻ hay thiếu niên chỉ từ vài hành vi sai trái. Chẩn đoán ASPD cần chuyên gia đánh giá lịch sử phát triển, bối cảnh và các rối loạn đi kèm, không thể dựa vào một bài trắc nghiệm trên mạng.
Psychopathy được hiểu và đánh giá như thế nào?
Psychopathy được mô tả bằng các nét như bốc đồng, cảm xúc nông, vẻ cuốn hút bề ngoài, lạnh lùng trước nỗi đau người khác và thao túng. Khái niệm này thường gồm hai nhóm chính là lệch chuẩn chống đối xã hội và nhóm cảm xúc, quan hệ.2 ASPD dựa chủ yếu vào hành vi, trùng với nhóm lệch chuẩn. Trong khi đó, psychopathy đặt trọng tâm vào nét cảm xúc và quan hệ.2
Công cụ được xem là chuẩn để đánh giá psychopathy là Bảng kiểm Psychopathy sửa đổi (PCL-R). Công cụ này cần phỏng vấn và xem xét hồ sơ phạm pháp, nên chủ yếu được dùng trong môi trường tư pháp và ít dùng trong khảo sát cộng đồng.2 Ngoài nhà tù, nghiên cứu thường chỉ đo các nét psychopathy bằng bảng tự báo cáo. Vì vậy, “psychopath” trong đời thường hiếm khi tương ứng với một đánh giá chuẩn.
Ngay trong giới nghiên cứu, phạm vi và ranh giới của khái niệm vẫn còn tranh luận. Mô hình ba thành phần (triarchic model) năm 2009 đề xuất psychopathy gồm ba nét riêng biệt. Đó là mất kiểm soát xung động, sự táo bạo và sự tàn nhẫn, tức tìm kiếm lợi ích bằng gây hấn mà không đếm xỉa tới người khác.3 Mỗi cách đo có thể nghiêng về những nét khác nhau, nên hai nghiên cứu cùng dùng chữ “psychopathy” chưa chắc đo cùng một thứ.
Tỷ lệ psychopathy trong dân số chung chưa được xác định rõ. Các ước tính dựa trên nét tính cách cho thấy khoảng 1% đến 1,2% người trong cộng đồng có điểm ở vùng gợi ý psychopathy, còn trong các mẫu bệnh viện tâm thần pháp y là khoảng 3%.2 Quan hệ giữa hai khái niệm không cân xứng. Gần như mọi trường hợp psychopathy đáp ứng tiêu chí ASPD, nhưng chỉ một phần nhỏ người có ASPD đạt mức psychopathy.2

ICD-11 mô tả rối loạn nhân cách ra sao?
ICD-11 bỏ cách chia mười loại rối loạn nhân cách riêng biệt và chuyển sang cách tiếp cận theo chiều kích. Người đánh giá xác định mức độ: khó khăn nhân cách, rối loạn nhân cách nhẹ, vừa hoặc nặng. Sau đó có thể ghi thêm một hoặc nhiều nét nổi bật trong năm lĩnh vực: cảm xúc tiêu cực, tách rời, phi xã hội (dissociality), mất kiểm soát và cứng nhắc (anankastia).4
Lĩnh vực phi xã hội được định nghĩa là coi thường quyền và cảm xúc của người khác, bao gồm cả tính vị kỷ và thiếu đồng cảm.4 Trong một ca minh họa của bài báo năm 2018 về cách áp dụng ICD-11, một người được mô tả là rối loạn nhân cách nặng với nét phi xã hội, mất kiểm soát và tách rời nổi bật.4 Như vậy, ICD-11 không có nhãn “psychopath” hay “sociopath”. Những điều đời thường gọi bằng hai từ này được mô tả bằng mức độ suy giảm và tổ hợp nét nhân cách.

Vì sao không nên dùng hai từ này để dán nhãn người khác?
Lý do đầu tiên là hai từ này thiếu định nghĩa thống nhất ngoài môi trường chuyên môn. Lý do thứ hai là người có ASPD cũng chịu nhiều khó khăn sức khỏe tâm thần. Theo các khảo sát cộng đồng, so với người không có ASPD, người có ASPD có khả năng mắc rối loạn khí sắc cao gấp khoảng 4 lần và rối loạn sử dụng chất gấp khoảng 13 lần.2 Nguy cơ có ý nghĩ tự sát và cố gắng tự sát cũng cao hơn lần lượt khoảng 7 và 9 lần.2
Nếu bạn hoặc người thân có ý nghĩ làm hại bản thân, hãy nói với người đáng tin và đến cơ sở y tế gần nhất. Khi có nguy hiểm tức thời, hãy gọi 115 (cấp cứu) hoặc 113 (công an).
Lý do thứ ba là cách chia “bẩm sinh” và “do môi trường” không khớp với dữ liệu. Một nghiên cứu trên các cặp song sinh nam ước tính khoảng 69% khác biệt về ASPD giữa các cá nhân gắn với di truyền, còn 31% gắn với môi trường riêng của từng người. Với nét psychopathy đo bằng bảng tự trả lời, khoảng 49% khác biệt gắn với di truyền (di truyền cộng gộp).2 Cả hai đều chịu ảnh hưởng của gen lẫn môi trường, và hệ số di truyền mô tả quần thể, không định đoạt số phận một cá nhân.

Khi muốn nói về một hành vi gây tổn thương, mô tả cụ thể hành vi đó thường hữu ích hơn một nhãn gây sợ hãi. Ví dụ, “anh ấy thường nói dối để vay tiền rồi không trả” rõ ràng và dễ đặt ranh giới hơn “anh ấy là psychopath”. Nếu bạn quan tâm đến các nét như thao túng hay lạnh lùng ở người không có rối loạn, có thể đọc thêm về bộ ba hắc ám (Dark Triad).
ASPD có điều trị được không?
Bằng chứng hiện có còn rất hạn chế. Tổng quan Cochrane năm 2020 về can thiệp tâm lý cho người lớn có ASPD tìm được 19 nghiên cứu ngẫu nhiên, nhưng chỉ 10 nghiên cứu với 605 người tham gia có dữ liệu dùng được. Chỉ ba can thiệp cho thấy có thể tốt hơn chăm sóc thông thường ở vài kết quả đo.5 Đó là quản lý dựa trên phần thưởng (contingency management) ở người đang điều trị nghiện chất, liệu pháp lược đồ và liệu pháp hành vi biện chứng.5 Không can thiệp nào có bằng chứng thuyết phục về thay đổi hành vi chống đối xã hội.
Độ tin cậy của bằng chứng được đánh giá là thấp hoặc rất thấp, và các tác giả kêu gọi thêm nghiên cứu chặt chẽ.5 Về thuốc, hiện chưa có thuốc nào được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt cho ASPD.1 Thiếu bằng chứng không có nghĩa là đã kết luận “không thể thay đổi”. Câu hỏi còn để ngỏ là cách hỗ trợ nào phù hợp nhất cho từng nhóm người có ASPD.
Khi nào nên tìm hỗ trợ?
Bạn có thể nhận thấy mình nhiều lần vướng vào xung đột, khó giữ công việc hay các mối quan hệ, hoặc dùng rượu và chất gây nghiện để đối phó. Khi đó, chuyên gia sức khỏe tâm thần có thể giúp đánh giá. Nếu người bạn đang sống cùng thường đe dọa, kiểm soát hoặc làm hại bạn, an toàn của bạn cần được ưu tiên trước việc đoán xem họ “thuộc loại gì”. Hãy nói với người đáng tin và tìm hỗ trợ từ cơ quan chức năng khi cần.
Khi có nguy hiểm tức thời từ bạo lực hay đe dọa, hãy tìm nơi an toàn và gọi 113 (công an) hoặc 115 (cấp cứu). Nếu bạn hoặc người thân có ý nghĩ làm hại bản thân, hãy nói với người đáng tin và đến cơ sở y tế gần nhất.
Tài liệu tham khảo học thuật
1. Torrico, T. J., & Hany, M. (2026). Antisocial personality disorder. Xem nguồn
2. Werner, K. B., et al. (2015). Epidemiology, comorbidity, and behavioral genetics of antisocial personality disorder and psychopathy. Xem nguồn
3. Patrick, C. J., et al. (2009). Triarchic conceptualization of psychopathy: Developmental origins of disinhibition, boldness, and meanness. Xem nguồn
4. Bach, B., & First, M. B. (2018). Application of the ICD-11 classification of personality disorders. Xem nguồn
5. Gibbon, S., et al. (2020). Psychological interventions for antisocial personality disorder. Xem nguồn




