Nhận thức & Hành vi

Thiên vị trong gia đình: Cha mẹ đối xử khác biệt ảnh hưởng gì?

Bài tóm tắt các phân tích gộp về đối xử khác biệt của cha mẹ (PDT): mức liên hệ với khó khăn ở trẻ, vai trò của cảm nhận công bằng, văn hóa và tuổi trưởng thành.

Tranh màu nước: hai chiếc áo khoác trẻ em treo trên thanh móc, một chiếc mới đậm màu, một chiếc bạc màu sờn mép có miếng vá ở khuỷu tay; chữ Thiên vị trong gia đình

Ở nhiều gia đình, có những khoảnh khắc đứa con này nhớ mãi: lời khen dành cho em trước mặt khách, hay chiếc áo mới chỉ có phần của anh. Nghiên cứu cho thấy trẻ nhận ít ấm áp hoặc nhiều gay gắt hơn anh chị em có xu hướng gặp nhiều khó khăn về cảm xúc và hành vi hơn một chút. Mối liên hệ này nhìn chung là nhỏ. Việc đứa trẻ thấy sự khác biệt ấy có công bằng hay không cũng làm kết quả thay đổi. Cùng Trần Toàn Psy tìm hiểu nhé!

Thiên vị trong gia đình là gì?

Đối xử khác biệt của cha mẹ (parental differential treatment, PDT) là việc cha mẹ dành cho các con mức ấm áp, kiểm soát hoặc xung đột không giống nhau.1,2 Trong nghiên cứu, PDT tuyệt đối là độ chênh lệch giữa các anh chị em. Còn PDT tương đối cho biết một đứa trẻ được đối xử thuận lợi hơn hay kém hơn so với anh chị em.3

Không phải mọi sự khác biệt đều là thiên vị. Mỗi đứa trẻ có tuổi, tính khí và nhu cầu riêng, nên cha mẹ cần đối xử khác nhau ở nhiều thời điểm, chẳng hạn cho đứa lớn về muộn hơn hoặc dành thêm thời gian cho đứa đang ốm. Việc đứa trẻ thấy sự khác nhau ấy có công bằng hay không cũng liên quan đến cảm xúc của chính đứa trẻ đó.4 Cách đo cũng ảnh hưởng đến kết quả, vì một số mối liên hệ rõ hơn khi chính trẻ là người báo cáo.3

Bị đối xử kém hơn anh chị em liên quan đến điều gì ở trẻ?

Các tổng quan gần đây ghi nhận trẻ bị đối xử kém thuận lợi hơn anh chị em có nhiều khó khăn về cảm xúc và hành vi hơn, nhưng mối liên hệ chỉ ở mức nhỏ.1,5 Một phân tích gộp năm 2024, tức cách tổng hợp kết quả của nhiều nghiên cứu, đã gom dữ liệu của 26.451 trẻ từ 3 đến 19 tuổi, thuộc 43 mẫu nghiên cứu. Kết quả ghi nhận trẻ bị đối xử kém thuận lợi hơn có nhiều vấn đề nội hóa và ngoại hóa hơn.3 Chênh lệch giữa các anh chị em càng lớn thì các vấn đề này cũng càng nhiều.3

Vấn đề nội hóa (internalizing) thể hiện qua lo âu và trầm cảm, còn vấn đề ngoại hóa (externalizing) thể hiện qua hành vi hung hăng và vi phạm quy tắc.5 Hai thuật ngữ này mô tả cách khó khăn của trẻ biểu lộ ra ngoài, không nói về tính hướng nội hay hướng ngoại. Một đứa trẻ hướng nội vẫn có thể không có vấn đề nội hóa nào, và một đứa trẻ hòa đồng vẫn có thể có.

Hướng liên hệ tương tự cũng xuất hiện trong một phân tích gộp mạng lưới (network meta-analysis) năm 2025, gồm 26 nghiên cứu với 37.025 người tham gia.5 Khi chênh lệch giữa các anh chị em lớn hơn, trẻ có mức trầm cảm cao hơn (r = 0,14), vi phạm quy tắc nhiều hơn (r = 0,21) và hung hăng nhiều hơn (r = 0,11).5 So với anh chị em được ưu ái, trẻ bị thiệt thòi có mức lo âu cao hơn (r = 0,11) và vấn đề ngoại hóa cao hơn (r = 0,20).5

Các hệ số quanh 0,10 đến 0,21 thuộc mức nhỏ, nghĩa là biết một đứa trẻ bị đối xử khác biệt chỉ giúp dự đoán rất ít về tâm trạng hay hành vi của trẻ ấy. Các tác giả đề xuất rằng đối xử khác biệt có thể là một yếu tố nguy cơ, và nhận thấy quan hệ anh chị em đóng vai trò trung gian thống kê trong mối liên hệ này.5 Vì vậy, bị đối xử khác biệt không có nghĩa trẻ nhất định sẽ gặp khó khăn. Quan hệ anh chị em là một chủ đề rộng, nên bài chỉ nhắc ngắn ở đây.

Phân tích gộp mạng lưới năm 2025 trên 37.025 người: các hệ số tương quan nhỏ từ 0,11 đến 0,21 giữa đối xử khác biệt giữa anh chị em và trầm cảm, lo âu, vi phạm quy tắc, hung hăng

Một phân tích gộp khác năm 2024, gồm 19 công bố với 13 mẫu độc lập, tách riêng hai kiểu khác biệt.1 Nhận ít ấm áp hơn hoặc nhiều gay gắt hơn anh chị em có liên quan đến chênh lệch về hành vi có vấn đề giữa các em, ở mức nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê. Mối liên hệ rõ hơn với khác biệt về mức gay gắt so với mức ấm áp, và rõ hơn với hành vi ngoại hóa so với nội hóa. Đáng chú ý nhất là trẻ nhận nhiều gay gắt hơn có mức hành vi ngoại hóa cao hơn.1

Chiều nhân quả có thể không đi theo một hướng. Một nghiên cứu cặp song sinh năm 2026 trên 632 cặp, tuổi trung bình 7,6, ghi nhận ảnh hưởng di truyền lên mức gay gắt (chủ yếu ở các bé gái) và mức can thiệp quá mức của cha mẹ. Điều này gợi ý đặc điểm bẩm sinh của trẻ cũng góp phần tạo nên cách cha mẹ nuôi dạy.6 Vì vậy, đổ hết lỗi cho cha mẹ hay cho đứa trẻ đều chưa có căn cứ.

Cảm giác công bằng có quan trọng hơn mức đối xử thật không?

Cảm nhận công bằng có vai trò đáng kể nhưng không xóa hết tác động của sự khác biệt. Một nghiên cứu năm 2002 phỏng vấn riêng 135 trẻ (tuổi trung bình 11,7) và anh hoặc chị lớn của các em (14,6 tuổi) về cách cha mẹ chia sẻ tình cảm và sự kiểm soát. Trẻ báo cáo mức kiểm soát khác biệt càng nhiều thì có càng nhiều vấn đề ngoại hóa. Tuy vậy, khi trẻ cho rằng sự khác biệt đó là công bằng, các em có mức vấn đề nội hóa thấp hơn và lòng tự trọng chung cao hơn.4

Bối cảnh cũng góp phần vào kết quả. Một nghiên cứu theo dõi 179 gia đình người Mỹ gốc Phi qua ba lần phỏng vấn hằng năm đã ghi nhận một điều đáng chú ý. Khi cha mẹ ít chấp nhận và xung đột nhiều hơn với một đứa so với anh chị em của đứa đó, hành vi liều lĩnh và triệu chứng trầm cảm của đứa trẻ ấy tăng theo. Mối liên hệ này không xuất hiện khi người mẹ thực hành giáo dục bản sắc văn hóa ở mức cao hoặc gia đình chịu căng thẳng tài chính cao.7

Ai thường được ưu ái hơn trong gia đình?

Không có một “đứa con cưng” cố định, nhưng phân tích gộp năm 2025 ghi nhận vài xu hướng chung. Dữ liệu của 19.469 người (tuổi trung bình 19,6) được dùng để xem đứa trẻ nào dễ được ưu ái theo thứ tự sinh, giới tính, khí chất và tính cách. Khi sự ưu ái được đo qua mức tự chủ và kiểm soát, cha mẹ có xu hướng ưu ái con lớn hơn, và cha mẹ cho biết họ ưu ái con gái. Trẻ tận tâm hoặc dễ chịu cũng nhận được đối xử thuận lợi hơn.2

Phân tích gộp năm 2025 trên 19.469 người: cha mẹ có xu hướng ưu ái con lớn hơn khi đo qua tự chủ và kiểm soát, cha mẹ cho biết ưu ái con gái, trẻ tận tâm hoặc dễ chịu nhận đối xử thuận lợi hơn

Đây là xu hướng trung bình trên nhiều gia đình, không cho biết gia đình bạn có rơi vào mô hình nào. Kết quả cũng không có nghĩa trẻ ít tận tâm hay ít dễ chịu “đáng” nhận ít hơn. Các tác giả nhấn mạnh mục đích là giúp cha mẹ và nhà chuyên môn nhận ra những khuôn mẫu gia đình có thể gây tổn hại.2 Còn việc trẻ hướng nội hay hướng ngoại có dễ bị thiệt hơn hay không thì bài viết này chưa đủ căn cứ để nói.

Con trưởng, con trai và văn hóa Việt Nam thì sao?

Bài chưa tìm thấy nghiên cứu nào đo trực tiếp cách cha mẹ Việt Nam đối xử khác nhau với từng con. Vì vậy, bài chưa thể nói con trưởng hay con trai có được ưu ái hơn hay không. Thứ hiện có là nghiên cứu về việc cha mẹ mong con thuộc giới tính nào. Một khảo sát năm 2023 trên 732 phụ nữ mang thai ở hai bệnh viện tại Việt Nam ghi nhận 51,9% không có mong muốn riêng về giới tính. Có 26,5% mong có con trai, 21,6% mong có con gái, và chỉ 6,2% cảm thấy bị áp lực phải sinh con trai.8

Khảo sát năm 2023 trên 732 phụ nữ mang thai ở Việt Nam: 51,9% không có mong muốn riêng, 26,5% mong có con trai, 21,6% mong có con gái, 6,2% cảm thấy bị áp lực phải sinh con trai

Một phân tích dữ liệu khảo sát quốc gia năm 2020–2021 trên 2.354 trẻ từ 24 đến 59 tháng tuổi ghi nhận nhìn chung bé trai và bé gái phát triển sớm tương đương nhau. Tuy nhiên, khi xét thứ tự sinh, con gái đầu lòng có xác suất phát triển đúng hướng cao nhất, còn con trai đầu lòng thấp nhất. Các tác giả cho rằng mô hình này có thể phản ánh nhiều yếu tố, trong đó có việc cha mẹ đầu tư theo kỳ vọng văn hóa về giới. Nghiên cứu không đo trực tiếp cách cha mẹ đối xử với từng con.9

Phân tích gộp mạng lưới năm 2025 còn ghi nhận trẻ ít được ưu ái có nguy cơ gặp triệu chứng tâm lý cao hơn ở các nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân mạnh hơn.5 Điều này gợi ý rằng ý nghĩa của sự khác biệt có thể thay đổi theo bối cảnh, nhưng chưa đủ để suy ra kết quả cho từng gia đình Việt Nam. Thay vì kết luận chung, mỗi gia đình có thể hỏi các con xem những kỳ vọng như “con lớn phải nhường em” đang được cảm nhận ra sao.

Nếu con lớn còn phải gánh việc chăm em và lo cảm xúc cho cha mẹ, đó là chủ đề khác với thiên vị. Chủ đề này được bàn trong bài về parentification. Phân biệt hai chuyện giúp gia đình xem đúng điều đang làm con lớn mệt: sự khác biệt trong cách đối xử, hay gánh trách nhiệm vượt sức.

Cảm giác bị thiên vị có theo ta đến tuổi trưởng thành không?

Có thể, ít nhất ở dạng cảm nhận, và nó liên quan đến tâm trạng cũng như quan hệ với anh chị em. Một nghiên cứu trên 725 người con trưởng thành đã ở tuổi trung niên, thuộc 309 gia đình, hỏi họ xem mẹ gần gũi nhất, xung đột nhiều nhất hoặc thất vọng nhất với ai. Triệu chứng trầm cảm cao hơn ở những người thấy mình gần mẹ nhất, xung đột với mẹ nhiều nhất hoặc là đứa con mẹ thất vọng nhất. Mối liên hệ mạnh hơn ở gia đình người da đen so với gia đình người da trắng.10

Các tác giả cho rằng mô hình này phù hợp với quá trình so sánh xã hội (social comparison). Nói cách khác, việc đặt mình bên cạnh anh chị em có thể ảnh hưởng đến tâm trạng ở cả hai phía, được ưu ái lẫn không được ưu ái.10 Ví dụ, khi thấy em được khen trước cả nhà, đứa anh có thể tủi thân, còn đứa em có thể áy náy. Kết quả nghiên cứu là mối liên hệ chứ chưa phải bằng chứng nhân quả. Nó cũng không cho phép kết luận rằng mẹ bạn đã thiên vị hay chưa.

Quan hệ giữa các anh chị em trưởng thành cũng chịu ảnh hưởng. Một khảo sát trên 341 người con trưởng thành thuộc 137 gia đình ghi nhận rằng cảm nhận cha hiện đang ưu ái một người con nào đó có liên quan đến căng thẳng với anh chị em. Cảm nhận về sự ưu ái của mẹ thì không, và mối liên hệ rõ hơn ở con gái.11 Ở tuổi thơ, nghiên cứu cặp song sinh năm 2026 cũng ghi nhận rằng chênh lệch về tình cảm và sự thiên vị của người cha có vai trò nổi bật với triệu chứng tâm lý của trẻ.6

Giai đoạn cha mẹ cần chăm sóc là lúc căng thẳng giữa anh chị em dễ tăng.12 Ở 450 người con trưởng thành thuộc 214 gia đình có mẹ cần chăm sóc, một nghiên cứu đã xem xét hai yếu tố. Việc trực tiếp chăm sóc và cảm giác mẹ ưu ái ai đó trong chuyện chăm sóc sau này đều liên quan đến căng thẳng giữa anh chị em. Ảnh hưởng của việc chăm sóc còn lớn hơn khi có cảm nhận thiên vị.12 Nói cách khác, gánh nặng chăm sóc và cảm giác bị đối xử không công bằng có thể cộng hưởng với nhau.

Cha mẹ có thể làm gì khi nhận ra mình đối xử khác nhau?

Nhận ra khác biệt không đồng nghĩa với làm cha mẹ tệ. Bài chưa tìm thấy thử nghiệm đối chứng nào kiểm tra riêng việc giảm đối xử khác biệt giữa các con. Vì vậy, các gợi ý dưới đây rút ra từ kết quả quan sát ở trên, không phải kết quả can thiệp đã được xác nhận. Trẻ dễ chịu và tận tâm thường nhận đối xử thuận lợi hơn ở nhiều gia đình, nên cha mẹ không cần tự trách khi nhận ra điều đó trong nhà mình.2

Gợi ý đầu tiên là nhìn cả mức ấm áp chung lẫn mức chênh lệch. Trên 599 gia đình có đủ cả cha lẫn mẹ, một nghiên cứu xem xét cách nuôi dạy trung bình của gia đình và mức chênh lệch giữa các con. Cả hai đều giải thích riêng một phần khác biệt về hành vi chống đối và vấn đề cảm xúc của trẻ.13 Sự ấm áp từ cha và mẹ cộng dồn lại, còn sự tiêu cực có dấu hiệu nhân lên khi cả hai cùng có.13 Điều này gợi ý đối xử giống nhau chưa đủ nếu bầu không khí chung còn căng thẳng.

Gợi ý thứ hai là xem lại sự gay gắt không đồng đều. Khác biệt về mức gay gắt có liên hệ rõ hơn so với khác biệt về mức ấm áp.1 Cha mẹ có thể bắt đầu bằng việc tự hỏi mình có quát, phạt hoặc cãi nhau với đứa này nhiều hơn đứa kia hay không. Ảnh hưởng của người cha nổi bật trong cả nghiên cứu về tuổi thơ lẫn tuổi trưởng thành.11,6 Vì thế, các ông bố nên xem lại cách dành tình cảm cho từng con.

Gợi ý thứ ba là nói chuyện về lý do. Cảm nhận công bằng có liên quan đến cảm xúc và lòng tự trọng của trẻ khi có đối xử khác biệt.4 Vì vậy, cha mẹ có thể giải thích vì sao có khác biệt dựa trên tuổi hoặc nhu cầu và lắng nghe điều con thấy bất công. Khi lý do không còn đúng, cha mẹ nên sẵn sàng điều chỉnh. Đây là suy luận thực hành từ kết quả quan sát. Nó không thay thế việc tìm hỗ trợ khi căng thẳng trong gia đình kéo dài.

Ba gợi ý cho cha mẹ khi nhận ra mình đối xử khác nhau: nhìn cả mức ấm áp chung và mức chênh lệch, xem lại sự gay gắt không đồng đều, nói chuyện về lý do

Nếu bạn từng lớn lên với cảm giác bị thiên vị?

Cảm giác của bạn là có thật, và bạn không cần biến nó thành một bản án dành cho cha mẹ. Một bước hữu ích là tách tình huống cụ thể ra khỏi cảm giác chung. Lời kể về sự đối xử khác biệt có thể khác nhau tùy người kể, và một số mối liên hệ rõ hơn khi do chính trẻ báo cáo.3 Vì vậy, bạn có thể ghi lại vài sự việc cụ thể rồi lắng nghe anh chị em nhớ về chúng ra sao. Cách này giúp nhìn rõ hơn mà không phủ nhận cảm xúc.

Buồn, giận hay tủi thân là phản ứng dễ hiểu, không phải bằng chứng rằng bạn kém hơn anh chị em. Mối liên hệ giữa việc bị đối xử kém hơn và khó khăn tâm lý trong các tổng quan chỉ ở mức nhỏ,5 nên khó khăn không phải là kết cục tất yếu của mọi người từng bị thiệt thòi. Nếu bạn là đứa được ưu ái mà vẫn thấy nặng nề, cảm giác ấy cũng đáng được lắng nghe. Trong nghiên cứu ở tuổi trung niên, người thấy mình gần mẹ nhất cũng có triệu chứng trầm cảm cao hơn.10

Khi cha mẹ lớn tuổi cần chăm sóc, căng thẳng giữa các anh chị em có thể tăng, nhất là khi có cảm nhận thiên vị.12 Một gợi ý thực hành là bàn sớm và rõ ràng với anh chị em về phân công chăm sóc, thay vì để những hiểu lầm cũ quyết định. Gợi ý này rút ra từ kết quả quan sát chứ chưa được kiểm chứng trong thử nghiệm.

Nhìn lại tuổi thơ có thể khơi lên cảm xúc mạnh. Bài chỉ mô tả xu hướng chung, không đủ để kết luận cha mẹ bạn đã thiên vị hay chưa, và bạn có thể tạm dừng đọc khi thấy nặng nề.

Khi nào nên gặp chuyên gia?

Cảm giác từng bị thiên vị hay đang bị đối xử khác biệt không tự nó là dấu hiệu của rối loạn tâm lý. Tuy nhiên, hãy trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần nếu nỗi buồn, tức giận hoặc lo âu kéo dài nhiều tuần hoặc ảnh hưởng đến giấc ngủ, ăn uống, học tập, công việc. Cha mẹ thấy xung đột giữa các con ngày càng nặng cũng có thể nhờ chuyên gia tâm lý hỗ trợ. Bài về thời gian của một quá trình trị liệu tâm lý giúp bạn hình dung điều sẽ diễn ra.

Thiên vị khác với bạo hành. Khi có đánh đập, lăng mạ nặng nề, bỏ mặc hoặc một đứa trẻ bị đe dọa an toàn, đó là vấn đề bảo vệ trẻ em chứ không chỉ là chuyện công bằng trong gia đình.14 Ở Việt Nam, Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 hoạt động miễn phí 24 giờ mỗi ngày. Tổng đài tiếp nhận tư vấn về xâm hại, bạo lực cũng như khó khăn của trẻ trong quan hệ với người thân.15,16

Nếu bạn hoặc con bạn có ý nghĩ tự làm hại bản thân hoặc đang gặp nguy hiểm, hãy đến cơ sở y tế gần nhất hoặc gọi 115. Khi có nguy hiểm tức thời, hãy gọi 113.

Khi nào nên gặp chuyên gia khi có cảm giác bị đối xử khác biệt trong gia đình, kèm tổng đài bảo vệ trẻ em 111, số cấp cứu 115 và 113 khi nguy hiểm tức thời

Tài liệu tham khảo học thuật

1. Eradus, M., et al. (2024). Parental differential warmth, hostility, and sibling differences in internalizing and externalizing behavior problems: A meta-analysis. Xem nguồn

2. Jensen, A. C., & Jorgensen-Wells, M. A. (2025). Parents favor daughters: A meta-analysis of gender and other predictors of parental differential treatment. Xem nguồn

3. Jensen, A. C., & Thomsen, A. E. (2024). Parental differential treatment of siblings linked with internalizing and externalizing behavior: A meta-analysis. Xem nguồn

4. Kowal, A., et al. (2002). Children’s perceptions of the fairness of parental preferential treatment and their socioemotional well-being. Xem nguồn

5. Jiang, Z., et al. (2025). Parental differential treatment of siblings and child psychopathology: A network meta-analysis. Xem nguồn

6. Maravilla, J. P., et al. (2026). Parental differential treatment and symptoms of child psychopathology: A twin study. Xem nguồn

7. Solmeyer, A. R., & McHale, S. M. (2017). Parents’ differential treatment of adolescent siblings in African American families. Xem nguồn

8. Nguyen, A. D., et al. (2023). Toward sustainable development goals in gender inequality: An analysis of gender preferences among urban pregnant women in a Southeast Asian country. Xem nguồn

9. Nguyen, T. T. T., & Pothisiri, W. (2026). Early childhood development under son preference in Vietnam: The role of child gender and birth order. Xem nguồn

10. Suitor, J. J., et al. (2017). Role of perceived maternal favoritism and disfavoritism in adult children’s psychological well-being. Xem nguồn

11. Gilligan, M., et al. (2013). Differential effects of perceptions of mothers’ and fathers’ favoritism on sibling tension in adulthood. Xem nguồn

12. Suitor, J. J., et al. (2014). Caregiving, perceptions of maternal favoritism, and tension among siblings. Xem nguồn

13. Meunier, J. C., et al. (2012). Differential parenting and children’s behavioral problems: Curvilinear associations and mother–father combined effects. Xem nguồn

14. World Health Organization. (2026). Child maltreatment. Xem nguồn

15. Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111. (n.d.). Tổng đài bảo vệ trẻ em 111. Xem nguồn

16. Báo Điện tử Chính phủ. (2025). Tổng đài 111 tiếp nhận tố giác, tin báo về hành vi mua bán người. Xem nguồn

Đọc tiếp

Nội dung liên quan