Có thể bạn đã nhiều tuần liền thấy trống rỗng, chẳng còn hứng thú với những việc từng thích, ngủ không ngon và làm gì cũng thấy mệt. Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp, khác với nỗi buồn thoáng qua. Ở trầm cảm, khí sắc buồn hoặc mất hứng thú kéo dài gần như cả ngày, hầu hết các ngày, ít nhất 2 tuần và làm xáo trộn cuộc sống. Đây không phải sự yếu đuối, và trầm cảm có cách điều trị hiệu quả. Cùng Trần Toàn Psy tìm hiểu nhé!
Trầm cảm là gì?
Trầm cảm (depressive disorder) là một rối loạn tâm thần thường gặp, trong đó khí sắc buồn hoặc mất hứng thú kéo dài gần như cả ngày, hầu hết các ngày, ít nhất 2 tuần, kèm nhiều triệu chứng khác. Những triệu chứng này làm ảnh hưởng đến học tập, công việc, gia đình và các mối quan hệ. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhấn mạnh rằng trầm cảm khác với những thay đổi tâm trạng thường ngày và có thể xảy ra với bất kỳ ai.1
Trong hệ phân loại ICD-11 của WHO, đơn vị nền tảng là giai đoạn trầm cảm (depressive episode), tức một khoảng thời gian có đủ các triệu chứng nói trên. Bản thân giai đoạn này không phải là một chẩn đoán độc lập. Chẩn đoán được đặt theo cách các giai đoạn xuất hiện theo thời gian. Lần đầu tiên được gọi là rối loạn trầm cảm một giai đoạn, còn khi đã có ít nhất hai giai đoạn thì gọi là rối loạn trầm cảm tái diễn.2,1
Hệ DSM của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ gọi tình trạng tương ứng là rối loạn trầm cảm chủ yếu (major depressive disorder). Nhóm rối loạn trầm cảm trong DSM còn gồm rối loạn trầm cảm dai dẳng, trầm cảm do chất hoặc thuốc và trầm cảm do một bệnh cơ thể khác.3 Bản sửa đổi gần nhất là DSM-5-TR năm 2022, chủ yếu cập nhật phần mô tả và chỉnh tiêu chí của nhiều rối loạn ở mức nhỏ.4 Trong bài này, chữ “trầm cảm” chỉ rối loạn trầm cảm theo nghĩa lâm sàng, không phải câu than một ngày tệ.
ICD-11 và DSM định nghĩa trầm cảm giống và khác nhau ra sao?
Hai hệ thống gần nhau ở phần cốt lõi. Cả hai đều cần ít nhất năm triệu chứng cùng lúc, kéo dài ít nhất 2 tuần, trong đó phải có khí sắc buồn hoặc mất hứng thú, và triệu chứng phải gây suy giảm chức năng.2 Cả hai cũng yêu cầu chưa từng có giai đoạn hưng cảm hay hưng cảm nhẹ, vì khi đó chẩn đoán sẽ nghiêng về rối loạn lưỡng cực.3 Bảng dưới đây tóm tắt vài điểm khác biệt đáng chú ý.
| Điểm so sánh | ICD-11 (WHO) | DSM (APA) |
|---|---|---|
| Tên chẩn đoán | Rối loạn trầm cảm một giai đoạn (6A70), rối loạn trầm cảm tái diễn (6A71) | Rối loạn trầm cảm chủ yếu |
| Danh sách triệu chứng | 10 triệu chứng chia ba nhóm, có thêm cảm giác vô vọng về tương lai | 9 triệu chứng |
| Ngưỡng tối thiểu | 5 triệu chứng, ít nhất 1 thuộc nhóm cảm xúc | 5 triệu chứng, ít nhất 1 là khí sắc buồn hoặc mất hứng thú |
| Thời gian | Ít nhất 2 tuần | Ít nhất 2 tuần |
Bảng này dựa trên mô tả của ICD-11 và bản tóm lược tiêu chí DSM-5 trong tài liệu StatPearls, không trích trực tiếp từ sách DSM.2,5 Sự khác biệt về số triệu chứng có ý nghĩa với người làm nghiên cứu và người chẩn đoán hơn là với người đọc phổ thông. Điều quan trọng hơn là cả hai hệ đều dựa vào toàn bộ bức tranh lâm sàng, chứ không chỉ đếm triệu chứng.
Trầm cảm khác buồn bã thông thường thế nào?
Khác biệt nằm ở mức độ nặng, độ rộng và độ dài của triệu chứng. ICD-11 ghi nhận rằng tâm trạng đi xuống là phản ứng bình thường trước biến cố lớn như ly hôn hay mất việc, và điều này rất phổ biến. Tuy vậy, nếu các triệu chứng đã đủ tiêu chí của một giai đoạn trầm cảm, chẩn đoán vẫn được đặt ra dù có một biến cố rõ ràng đã khơi mào.2 Nói cách khác, “có lý do để buồn” không có nghĩa là không cần được hỗ trợ.
Đau buồn khi mất người thân là trường hợp cần phân biệt kỹ. Theo ICD-11, đau buồn bình thường trong khoảng 6 tháng sau mất mát, hoặc lâu hơn nếu phù hợp với phong tục và tín ngưỡng của người đó, không được xem là giai đoạn trầm cảm. Dù vậy, trầm cảm vẫn có thể xuất hiện chồng lên nỗi đau mất mát. Dấu hiệu gợi ý gồm buồn liên tục từ một tháng trở lên mà không có lúc nào vui lên, tự trách nặng nề không liên quan đến người đã mất, hoặc có ý nghĩ tự sát.2
Nhiều người vẫn nghĩ trầm cảm là chuyện “nghĩ nhiều” hay thiếu ý chí. Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) khẳng định trầm cảm là một tình trạng sức khỏe thật, với triệu chứng thật, và không phải thứ có thể dứt ra chỉ bằng cách “cố gắng lên”.6 Cũng theo NHS, phần lớn người bị trầm cảm có thể hồi phục tốt nếu được hỗ trợ đúng cách.6 Vì vậy, thay vì chỉ khuyên “cố lên”, Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH) gợi ý người thân nên thấu hiểu, kiên nhẫn, động viên và giúp người đó đến gặp người có chuyên môn.7
Dấu hiệu của trầm cảm là gì?
Dấu hiệu cốt lõi là khí sắc buồn, trống rỗng hoặc mất hứng thú rõ rệt với những việc từng thấy vui. ICD-11 xếp các triệu chứng còn lại vào hai nhóm khác. Nhóm nhận thức và hành vi gồm khó tập trung hoặc khó quyết định, cảm giác vô dụng hay tội lỗi quá mức, vô vọng về tương lai, và ý nghĩ lặp lại về cái chết hoặc tự sát. Nhóm sinh lý gồm rối loạn giấc ngủ, thay đổi ăn uống hoặc cân nặng, chậm chạp hay bồn chồn mà người khác nhìn thấy được, và mệt mỏi dù chỉ gắng sức ít.2
Trầm cảm không phải lúc nào cũng hiện ra dưới dạng nỗi buồn. Ở một số người, phần cảm xúc chủ yếu là cáu kỉnh hoặc cảm giác trống rỗng, không còn cảm nhận được gì.2 NIMH cũng liệt kê đau nhức, đau đầu hay rối loạn tiêu hóa không rõ nguyên nhân, thu mình, uống rượu nhiều hơn và khó hoàn thành trách nhiệm. Không phải ai cũng có đủ các dấu hiệu này, và có người chỉ có vài dấu hiệu.7
Biểu hiện còn khác nhau theo tuổi, giới và văn hóa. Ở trẻ em và thanh thiếu niên, khí sắc trầm có thể biểu hiện thành cáu kỉnh nhiều hơn là buồn.2 Nam giới có thể ít nhận ra, ít nói và ít tìm giúp đỡ cho cảm xúc tiêu cực hơn, nên dễ bị bỏ sót.7 ICD-11 lưu ý rằng ở một số nền văn hóa, thay đổi tâm trạng hay được diễn tả bằng triệu chứng cơ thể như đau, mệt, yếu sức.8 Ví dụ, một người có thể đi khám nhiều lần vì mất ngủ, mỏi người mà không nghĩ đến tâm trạng.
Danh sách dấu hiệu ở trên giúp bạn hiểu trầm cảm có thể biểu hiện thế nào, không phải công cụ để tự kết luận mình hay người thân có mắc trầm cảm hay không. Nhiều dấu hiệu trong đó cũng gặp ở bệnh cơ thể, tác dụng phụ của thuốc hay các rối loạn khác, nên cần được bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần đánh giá.
Vì sao một người bị trầm cảm?
Không có một nguyên nhân duy nhất. WHO mô tả trầm cảm là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa yếu tố xã hội, tâm lý và sinh học.1 Hai người có cùng hoàn cảnh khó khăn có thể phản ứng rất khác nhau, vì mỗi người mang theo một nền tảng di truyền, một lịch sử trải nghiệm và một mạng lưới hỗ trợ riêng. Cách nhìn kết hợp ba nhóm yếu tố này giúp tránh hai cực đoan, hoặc đổ hết cho “hóa chất trong não”, hoặc đổ hết cho tính cách.

Yếu tố sinh học
Di truyền có vai trò nhưng không quyết định tất cả. Một tổng quan năm 2020 dẫn lại phân tích gộp sáu nghiên cứu sinh đôi. Theo đó, khoảng 37% khác biệt về nguy cơ trầm cảm giữa các cá nhân có thể quy cho di truyền.9 Người có cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con bị trầm cảm có nguy cơ cao hơn khoảng 3 lần so với dân số chung. Dù vậy, trầm cảm vẫn có thể xảy ra ở người không có tiền sử gia đình.5 Nói cách khác, gen làm tăng khả năng mắc, chứ không định sẵn số phận.
Giả thuyết trầm cảm chỉ do thiếu serotonin hay các chất dẫn truyền thần kinh khác từng rất phổ biến. Một tổng quan lâm sàng trên StatPearls nhận định rằng các lý thuyết gần đây nghiêng về rối loạn của những mạch thần kinh và hệ điều hòa phức tạp hơn. Trong cách nhìn này, thay đổi chất dẫn truyền chỉ là hệ quả thứ phát.3 Đến nay vẫn chưa có dấu ấn sinh học nào đo được mức độ trầm cảm.9 Bệnh cơ thể như suy giáp, thiếu vitamin B12 hay một số thuốc cũng có thể gây triệu chứng giống trầm cảm.3
Yếu tố tâm lý
Một hướng giải thích có ảnh hưởng là mô hình nhận thức. Theo mô hình này, người đang trầm cảm thường có những niềm tin nền tảng xoay quanh mất mát, thất bại, vô giá trị và bị từ chối. Chúng tạo ra cái nhìn tiêu cực về bản thân, thế giới và tương lai, gọi là bộ ba nhận thức (cognitive triad).9 Thuyết bất lực tập nhiễm (learned helplessness) lại gắn trầm cảm với việc lặp đi lặp lại trải nghiệm những biến cố mình không kiểm soát được.3 Đây là các mô hình giải thích, không phải lời buộc tội rằng người trầm cảm “nghĩ sai”.
Yếu tố xã hội và hoàn cảnh sống
Biến cố lớn như mất người thân, mất việc, bạo lực hay bệnh nặng đều có liên quan đến trầm cảm. Những áp lực kéo dài như bấp bênh việc làm hay bị phân biệt đối xử cũng vậy.1,9 Người chăm sóc người thân bệnh lâu năm, phụ nữ sau sinh và những nhóm bị kỳ thị dễ tổn thương hơn trước stress. Phản ứng trước cùng một biến cố khác nhau giữa từng người, một phần vì cách mỗi người đánh giá mức đe dọa của nó.9
Những trải nghiệm từ thời thơ ấu cũng để lại dấu vết lâu dài. Bài tổng quan năm 2020 dẫn lại một tổng quan hệ thống các nghiên cứu theo dõi dọc. Theo đó, người từng bị ngược đãi thời thơ ấu có khả năng bị trầm cảm về sau cao hơn, với mức chênh khoảng gấp đôi. Bạo hành và bỏ mặc về mặt cảm xúc có thể liên quan đặc biệt chặt.9 Đây là các mối liên hệ ở cấp độ nhóm, không cho phép đoán trước một người cụ thể có bị trầm cảm hay không.
Quan hệ giữa stress và trầm cảm đi theo cả hai chiều. WHO lưu ý trầm cảm có thể dẫn đến thêm stress và khó khăn trong sinh hoạt, từ đó làm hoàn cảnh sống và chính trầm cảm nặng thêm.1 Vì vậy, câu hỏi “con gà hay quả trứng”, tức là chuyện khó khăn sinh ra trầm cảm hay trầm cảm làm cuộc sống khó khăn hơn, thường không có câu trả lời một chiều. Trầm cảm cũng gắn với sức khỏe thể chất, khi bệnh tim, đái tháo đường hay đau mạn tính có thể làm trầm cảm nặng hơn và ngược lại.7
Trầm cảm phổ biến đến mức nào?
Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất thế giới. Theo ước tính của WHO cho năm 2023, khoảng 4% dân số toàn cầu bị trầm cảm, tương đương khoảng 5,2% người trưởng thành và khoảng 322 triệu người. Tỷ lệ ở nữ là 6,2%, ở nam là 4,1%, và ở người từ 70 tuổi trở lên là 5,4%.1 Những con số này dựa trên mô hình ước tính gánh nặng bệnh tật toàn cầu, nên mang tính gần đúng.

Trầm cảm thường bắt đầu sớm. ICD-11 ghi nhận tỷ lệ tăng rõ từ tuổi dậy thì, với tuổi khởi phát trung bình vào khoảng giữa tuổi 20.8 Trước dậy thì, trẻ trai và trẻ gái có tỷ lệ tương đương, nhưng sau dậy thì nữ có nguy cơ cao hơn khoảng 2 lần.2 Khoảng cách điều trị vẫn lớn, khi ngay ở các nước thu nhập cao cũng chỉ khoảng một phần ba người bị trầm cảm được điều trị sức khỏe tâm thần.1
Bài viết chưa tìm được số liệu toàn quốc đáng tin cậy về trầm cảm ở người trưởng thành Việt Nam, nên không mượn tỷ lệ nước khác. Một nghiên cứu định tính năm 2014 đã phỏng vấn 30 cán bộ y tế cơ sở ở nội thành và ngoại thành Hà Nội. Kết quả gợi ý trầm cảm là khái niệm có ý nghĩa ở Việt Nam, dù cán bộ y tế hiểu nó chủ yếu qua các yếu tố tâm lý – xã hội. Người tìm hỗ trợ ở tuyến cơ sở còn ít, và lạm dụng rượu ở nam giới là một mối lo.10
Trầm cảm ảnh hưởng đến cuộc sống ra sao?
Trầm cảm có thể ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống, từ quan hệ gia đình, bạn bè đến việc học và công việc.1 Người đang sống với trầm cảm thường mắc kèm các rối loạn khác như rối loạn lo âu hay rối loạn do sử dụng chất.8 Nguy cơ tự sát ở người có rối loạn trầm cảm cũng cao hơn rõ rệt so với dân số chung.8 Điều quan trọng cần nhớ là ý nghĩ tự sát có thể được hỗ trợ hiệu quả, và tìm đến người khác là bước an toàn đầu tiên.
Tin tốt là trầm cảm có thể điều trị. WHO cho biết các liệu pháp tâm lý là lựa chọn đầu tiên, và có thể kết hợp với thuốc chống trầm cảm khi trầm cảm ở mức vừa hoặc nặng.1 Mức nhẹ, vừa hay nặng được xác định dựa trên số lượng, độ nặng của triệu chứng và mức ảnh hưởng đến sinh hoạt.1 Trầm cảm trong thai kỳ và sau sinh cũng khá phổ biến, với hơn 10% phụ nữ mang thai hoặc mới sinh trên thế giới bị ảnh hưởng.1 Các chủ đề này cần được tìm hiểu riêng và bàn kỹ với người có chuyên môn.
Trầm cảm được chẩn đoán như thế nào?
Trầm cảm được chẩn đoán qua thăm khám lâm sàng, không có xét nghiệm máu hay chụp não nào xác định được trầm cảm.3 Bác sĩ sẽ hỏi về triệu chứng, thời điểm bắt đầu, mức ảnh hưởng đến sinh hoạt, tiền sử bệnh, môi trường sống và các biến cố gần đây, kể cả ý nghĩ tự hại.11 Bác sĩ cũng có thể cho xét nghiệm máu hoặc nước tiểu để loại trừ tình trạng có triệu chứng tương tự, như suy giáp.11
Một phần quan trọng của chẩn đoán là loại trừ các nguyên nhân khác. Người từng có giai đoạn hưng phấn, tăng năng lượng bất thường cần được đánh giá về rối loạn lưỡng cực.3 Triệu chứng do bệnh cơ thể, do rượu, chất kích thích hay tác dụng phụ của thuốc cũng phải được tách bạch.2 Rối loạn thích ứng, rối loạn lo âu lan tỏa và chứng mất ngủ cũng có những nét chồng lấn với trầm cảm.8 Bác sĩ có thể dùng bảng hỏi để đánh giá triệu chứng, bên cạnh cuộc trò chuyện về cảm nhận và sinh hoạt của bạn.11
Khi nào nên gặp chuyên gia?
Bạn nên đi khám nếu các dấu hiệu trầm cảm kéo dài gần như cả ngày, hầu hết các ngày, hơn 2 tuần. Điều này càng quan trọng khi triệu chứng không cải thiện, khi tâm trạng ảnh hưởng đến công việc, sở thích hay các mối quan hệ, hoặc khi có ý nghĩ tự sát hay tự làm hại bản thân.11 Nhiều người chờ rất lâu mới tìm giúp đỡ, trong khi đi khám sớm thường giúp quá trình hồi phục bắt đầu sớm hơn.6
Bạn có thể bắt đầu với bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa tâm thần hoặc nhà tâm lý lâm sàng ở cơ sở y tế. Trước buổi khám, ghi lại triệu chứng bắt đầu từ khi nào, kéo dài bao lâu và ảnh hưởng thế nào đến sinh hoạt sẽ giúp buổi trao đổi hiệu quả hơn.7 Nếu bạn đang cân nhắc trị liệu tâm lý, bài viết về trị liệu tâm lý mất bao lâu giải thích vì sao thời lượng khác nhau giữa từng người. Việc chọn hướng hỗ trợ phù hợp nên được bàn với chuyên gia sau khi bạn được đánh giá đầy đủ.
Hãy đến cơ sở y tế gần nhất hoặc gọi cấp cứu 115 ngay nếu bạn hay người thân có ý định tự làm hại bản thân, có kế hoạch cụ thể, hoặc không còn tự chăm sóc được. Nếu đang có nguy hiểm tức thời đến tính mạng của bạn hay người khác, hãy gọi công an qua số 113. Đừng ở một mình trong lúc đó, hãy nói với một người bạn tin tưởng về cảm xúc của mình. Bạn không đơn độc, vì nhiều người từng trải qua cảm giác này đã tìm được sự giúp đỡ.1

Bài viết giúp bạn hiểu trầm cảm ở mức kiến thức chung, không thay thế việc thăm khám của bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần. Nếu bạn đang dùng thuốc, đừng tự ngừng hay đổi thuốc mà hãy trao đổi với người kê đơn.
Tài liệu tham khảo học thuật
1. World Health Organization. (2026). Depressive disorder (depression). Xem nguồn
2. World Health Organization. (2025). Mood disorders. Xem nguồn
3. Bains, N., & Abdijadid, S. (2023). Major depressive disorder. Xem nguồn
4. First, M. B., et al. (2022). DSM-5-TR: Overview of what’s new and what’s changed. Xem nguồn
5. Chand, S. P., & Arif, H. (2023). Depression. Xem nguồn
6. National Health Service. (2023). Overview – Depression in adults. Xem nguồn
7. National Institute of Mental Health. (2024). Depression. Xem nguồn
8. World Health Organization. (2025). Single episode depressive disorder (6A70). Xem nguồn
9. Maj, M., et al. (2020). The clinical characterization of the adult patient with depression aimed at personalization of management. Xem nguồn
10. Murphy, J., et al. (2018). Conceptualizing depression in Vietnam: Primary health care providers’ explanatory models of depression. Xem nguồn
11. National Health Service. (2023). Diagnosis – Depression in adults. Xem nguồn




