Từ điển thuốc

Buspirone là thuốc gì? Công dụng và lưu ý an toàn

Buspirone là thuốc chống lo âu khác benzodiazepine. Bài đối chiếu nhãn và nghiên cứu, giải thích lợi ích có giới hạn, tác dụng bất lợi và những vấn đề cần hỏi người kê đơn.

Japandi vẽ tay: chiếc radio cũ có núm âm lượng xoay về nấc nhỏ và vài nét sóng âm ngắn dần; chữ Buspirone là thuốc gì?

Bạn vừa được kê buspirone và băn khoăn đây có phải thuốc an thần, bao lâu mới thấy đỡ và có gây lệ thuộc không? Buspirone là thuốc chống lo âu phải kê đơn thuộc nhóm azapirone, dùng chủ yếu cho rối loạn lo âu lan tỏa (generalized anxiety disorder) và thường cần vài tuần mới phát huy tác dụng. Thuốc ít nguy cơ lệ thuộc hơn benzodiazepine nhưng có thể kém hiệu quả hơn nhóm này. Một hướng dẫn quốc tế năm 2023 vẫn xếp thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI và SNRI ở hàng đầu. Cùng Trần Toàn Psy tìm hiểu nhé!

Buspirone là thuốc gì?

Buspirone là thuốc chống lo âu phải kê đơn, thuộc nhóm azapirone, và không liên quan về hóa học hay dược lý với benzodiazepine, barbiturate hoặc các thuốc an thần, chống lo âu khác. Tại Mỹ, thuốc được chỉ định để quản lý rối loạn lo âu hoặc giảm triệu chứng lo âu trong ngắn hạn.1 Tên buspirone dễ bị nhầm với bupropion, một hoạt chất khác, nên khi nhận thuốc bạn có thể cùng dược sĩ đọc lại tên trên hộp.2

Buspirone tác động lên não như thế nào?

Buspirone tác động chủ yếu lên thụ thể serotonin, dù cơ chế giúp giảm lo âu đến nay chưa được biết đầy đủ. Theo nhãn Mỹ, thuốc gắn mạnh với thụ thể 5-HT1A, một vị trí trên tế bào thần kinh tiếp nhận tín hiệu serotonin, và gắn ở mức vừa với thụ thể dopamine D2.1 Nhãn Anh mô tả buspirone kích hoạt thụ thể 5-HT1A trước synap và kích hoạt một phần (partial agonist) thụ thể sau synap. Cách tác động này được cho là tạo ra những thay đổi lâu dài trong dẫn truyền serotonin.3

Buspirone không gắn đáng kể với thụ thể benzodiazepine và không làm thay đổi sự gắn GABA trong các mô hình tiền lâm sàng. Thuốc cũng không có tác dụng chống co giật hay giãn cơ và không gây buồn ngủ rõ như các thuốc chống lo âu điển hình.1 Vì tác dụng lâm sàng đến chậm, các tác giả StatPearls cho rằng thuốc nhiều khả năng giảm lo âu nhờ sự thích nghi dần của thụ thể 5-HT1A.2

Vì vậy, gọi buspirone là “thuốc cân bằng serotonin” dễ tạo một hình ảnh quá đơn giản. Không thể nhìn vào cảm giác lo lắng rồi suy ra một người đang “thiếu serotonin” và cần đúng thuốc này. Việc chọn thuốc dựa trên đánh giá chẩn đoán, bệnh sử, các thuốc đang dùng và mong muốn của người bệnh, không chỉ dựa vào tên triệu chứng.

Buspirone được dùng trong những trường hợp nào?

Buspirone được dùng chủ yếu cho rối loạn lo âu lan tỏa. Hiệu quả của thuốc được chứng minh trong thử nghiệm ở người bệnh ngoại trú có chẩn đoán gần với rối loạn này, nhiều người kèm triệu chứng trầm cảm. Nhãn Mỹ cũng nhấn mạnh rằng lo âu hay căng thẳng do áp lực đời sống hằng ngày thường không cần điều trị bằng thuốc chống lo âu.1 Nhãn Anh chỉ định thuốc cho xử trí ngắn hạn các rối loạn lo âu và giảm triệu chứng lo âu, có hoặc không kèm triệu chứng trầm cảm.3

Theo ICD-11 của Tổ chức Y tế Thế giới, rối loạn lo âu lan tỏa là tình trạng lo âu rõ rệt kéo dài ít nhất vài tháng, xuất hiện vào phần lớn các ngày. Lo âu có thể là cảm giác bất an chung chung hoặc lo lắng quá mức về nhiều việc thường ngày như gia đình, sức khỏe, tài chính, học tập hay công việc. Kèm theo thường có căng cơ, bồn chồn, khó tập trung, dễ cáu hoặc rối loạn giấc ngủ, gây khổ sở hay ảnh hưởng rõ đến cuộc sống.4

Những chỉ định trên là của sản phẩm tại Mỹ và Anh. Bài không xác nhận buspirone được phê duyệt hay đang lưu hành cho cùng chỉ định tại Việt Nam. Việc một người có phù hợp với buspirone hay không cần bác sĩ đánh giá. Theo ICD-11, chỉ chẩn đoán lo âu lan tỏa khi triệu chứng không phải biểu hiện của một bệnh khác và không do tác động của chất hay thuốc lên hệ thần kinh trung ương.4

Lo âu kèm triệu chứng trầm cảm có phải là điều trị trầm cảm?

Không. Nhãn Anh cảnh báo không dùng buspirone đơn độc để điều trị trầm cảm, và thuốc có thể che lấp các dấu hiệu lâm sàng của trầm cảm.3 Vì vậy, nếu tâm trạng đi xuống kéo dài trong lúc dùng thuốc, hãy báo sớm cho người kê đơn thay vì nghĩ đó chỉ là “thuốc chưa đủ mạnh”. Trầm cảm, nếu có, cần được đánh giá và điều trị riêng.

Nếu bạn có ý nghĩ tự làm hại bản thân hoặc cảm thấy không thể giữ an toàn, hãy tìm hỗ trợ ngay và nhờ một người tin cậy ở bên. Cách liên hệ khẩn cấp có ở mục Khi nào cần tìm hỗ trợ?

Buspirone có dùng cho cơn hoảng sợ hay cho trẻ em không?

Bằng chứng cho rối loạn hoảng sợ còn yếu. Một tổng quan Cochrane năm 2014 chỉ tìm được ba thử nghiệm nhỏ so sánh buspirone với giả dược, tổng cộng 170 người, và không đủ dữ liệu để kết luận về hiệu quả. Bằng chứng ở mức trung bình cho thấy người dùng buspirone bỏ điều trị nhiều hơn người dùng giả dược.5 Vì tác dụng đến chậm, buspirone cũng không phù hợp để tự uống khi một cơn hoảng sợ ập đến.2

Với trẻ em và thanh thiếu niên, nhãn Mỹ mô tả hai thử nghiệm sáu tuần có đối chứng giả dược ở tổng cộng 559 người từ 6 đến 17 tuổi mắc lo âu lan tỏa. Kết quả không cho thấy khác biệt có ý nghĩa giữa buspirone và giả dược.1 Nhãn Anh không khuyến nghị dùng buspirone cho người dưới 18 tuổi.3 Vì vậy, nội dung trong bài chủ yếu áp dụng cho người trưởng thành.

Ba nhóm: lo âu lan tỏa có hiệu quả được chứng minh trong thử nghiệm, rối loạn hoảng sợ có ba thử nghiệm nhỏ với 170 người chưa đủ dữ liệu, trẻ em và thanh thiếu niên 559 người không thấy khác biệt có ý nghĩa với giả dược

Buspirone hiệu quả đến đâu?

Buspirone hiệu quả hơn giả dược trong các thử nghiệm ngắn về lo âu lan tỏa, nhưng có thể kém benzodiazepine và còn thiếu dữ liệu dài hạn. Bằng chứng tổng hợp chính là tổng quan Cochrane năm 2006 về nhóm azapirone, gồm 36 thử nghiệm ngẫu nhiên với 5.908 người, phần lớn kéo dài 4–9 tuần. Ước tính cần điều trị khoảng 4–5 người để có thêm một người cải thiện rõ so với giả dược. Tuy vậy, con số này chỉ dựa trên hai thử nghiệm sáu tuần với 187 người và có khoảng tin cậy rất rộng.6

Tổng quan này có những giới hạn quan trọng. Không thử nghiệm nào mô tả rõ cách che giấu việc phân nhóm, và nhiều nghiên cứu thiếu số liệu nên mỗi phép gộp chỉ dùng được vài thử nghiệm. Con số 5.908 người là tổng của mọi nhóm so sánh, gồm cả nhóm dùng giả dược, benzodiazepine, thuốc chống trầm cảm hay trị liệu tâm lý. Nhóm tác giả kết luận cần nghiên cứu dài hơn, vì lo âu lan tỏa thường là bệnh mạn tính.6

Một phân tích gộp mạng (network meta-analysis) năm 2019 gồm 89 thử nghiệm với 25.441 người lớn mắc lo âu lan tỏa, so sánh 22 thuốc với nhau và với giả dược. Duloxetine, pregabalin, venlafaxine và escitalopram vừa hiệu quả hơn giả dược vừa có khả năng chấp nhận tương đối tốt. Buspirone cũng được ghi nhận là hiệu quả và dung nạp tốt, nhưng các tác giả lưu ý kết quả này bị giới hạn bởi cỡ mẫu nhỏ.7 Nghĩa là buspirone có tác dụng so với giả dược, nhưng dữ liệu còn ít nên khó xếp hạng chắc chắn.

Hai tổng hợp bằng chứng: Cochrane năm 2006 có 36 thử nghiệm với 5.908 người và phân tích gộp mạng năm 2019 có 89 thử nghiệm với 25.441 người, kèm các giới hạn của từng tổng hợp

Nhãn Mỹ ghi hiệu quả khi dùng dài hơn 3–4 tuần chưa được chứng minh trong thử nghiệm có đối chứng. Trong một nghiên cứu dài hạn, 264 người dùng buspirone suốt một năm không gặp tác hại, và nhãn khuyên bác sĩ định kỳ đánh giá lại lợi ích của thuốc với từng người.1 Giới hạn này không phải mốc để tự ngừng thuốc, mà là lý do để tái khám và trao đổi về việc có nên tiếp tục hay không.

Bao lâu thì buspirone bắt đầu có tác dụng?

Buspirone tác dụng từ từ, thường khoảng 10 ngày đến 4 tuần.8 StatPearls mô tả thuốc ít có giá trị như một thuốc giảm lo âu cấp và thường cần 2–4 tuần để đạt hiệu quả lâm sàng.2 Trong một thử nghiệm được Cochrane tóm tắt, buspirone cần đến tuần thứ sáu mới đạt hiệu quả ngang diazepam, nghĩa là diazepam cải thiện triệu chứng nhanh hơn.6

Trục thời gian theo tuần: khoảng 10 ngày đến 4 tuần, 2 đến 4 tuần để đạt hiệu quả lâm sàng, và một thử nghiệm cần đến tuần thứ sáu để đạt hiệu quả ngang diazepam

Vì vậy, buspirone không được dùng theo kiểu “thấy lo thì uống”. Khi mới nhận đơn, bạn có thể hỏi khi nào nên tái khám, cần theo dõi thay đổi gì và dấu hiệu nào phải liên hệ sớm. Nếu chưa thấy đỡ, hãy mô tả cụ thể với người kê đơn thay vì tự tăng liều để mong thuốc tác dụng nhanh hơn.

Buspirone khác benzodiazepine như thế nào?

So với benzodiazepine, buspirone tác dụng chậm hơn và có thể kém hiệu quả hơn, nhưng chưa thấy bằng chứng gây dung nạp hay lệ thuộc. Benzodiazepine tác động lên thụ thể GABA-A và bị phê phán vì nguy cơ dung nạp, lệ thuộc, lạm dụng và té ngã ở người cao tuổi.8 Buspirone thì không tác động trực tiếp lên phức hợp thụ thể benzodiazepine–GABA.3 Bảng dưới tóm tắt các khác biệt chính, dựa trên tổng quan Cochrane, nhãn thuốc Mỹ và một tổng quan năm 2020 về thuốc điều trị lo âu.1,6,8

Điểm so sánhBuspironeBenzodiazepine
Tốc độ tác dụngChậm, khoảng 10 ngày đến 4 tuầnNhanh hơn buspirone trong thử nghiệm so sánh trực tiếp
Hiệu quả trong lo âu lan tỏaTốt hơn giả dược, có thể kém benzodiazepineTốt hơn azapirone ở khoảng 60% nghiên cứu được phân tích
Bỏ điều trị trong thử nghiệmNhiều hơn nhóm benzodiazepineÍt hơn nhóm azapirone
Tác dụng phụ nổi bật hơn khi so với nhauBuồn nôn, chóng mặtBuồn ngủ, mệt mỏi
Lệ thuộc và triệu chứng caiChưa thấy bằng chứng gây lệ thuộcCó nguy cơ dung nạp, lệ thuộc, có triệu chứng cai khi ngừng
Dùng khi cầnKhông phù hợp vì tác dụng chậmKhông còn được xem là lựa chọn đầu tay nếu dùng đơn độc, nhưng có thể được kê ngắn hạn, kể cả dùng khi cần, cùng SSRI hoặc SNRI

Các nguồn không hoàn toàn thống nhất về hiệu quả so với benzodiazepine. StatPearls, một tài liệu tổng quan tường thuật, viết rằng buspirone hiệu quả tương đương benzodiazepine trong lo âu lan tỏa.2 Tổng quan hệ thống Cochrane, vốn gộp số liệu từ các thử nghiệm, lại kết luận buspirone có thể kém hơn.6 Bài này ưu tiên kết luận của Cochrane vì đây là bằng chứng tổng hợp có hệ thống.

Về khả năng dung nạp, người dùng benzodiazepine trong tổng quan Cochrane ít bỏ điều trị hơn người dùng azapirone.6 Phân tích gộp mạng năm 2019 lại ghi nhận benzodiazepine hiệu quả nhưng dung nạp kém khi so với giả dược.7 Kết quả thứ nhất so trực tiếp hai nhóm thuốc, còn kết quả thứ hai so benzodiazepine với giả dược, nên hai phát hiện trả lời hai câu hỏi khác nhau.

Buspirone không có dung nạp chéo với benzodiazepine nên không ngăn được hội chứng cai khi ngừng nhóm thuốc này. Nhãn Mỹ khuyên giảm dần các thuốc an thần đã dùng lâu ngày trước khi bắt đầu buspirone, và việc này cần người kê đơn hướng dẫn.1 Tổng quan Cochrane cũng thận trọng khi áp dụng kết quả cho người từng dùng benzodiazepine, vì buspirone tỏ ra hữu ích hơn ở người chưa dùng nhóm này.6 Nếu đang dùng benzodiazepine, bạn đừng tự ngừng chỉ vì đã có buspirone trong đơn.

Buspirone có gây nghiện không?

Hiện chưa có bằng chứng buspirone gây lạm dụng, dung nạp hay lệ thuộc thể chất và tâm lý. Theo nhãn Mỹ, thuốc không thuộc danh mục chất bị kiểm soát tại Mỹ. Trong hai thử nghiệm mù đôi ở người từng dùng chất gây nghiện hoặc rượu, người tham gia không phân biệt được buspirone với giả dược. Dù vậy, nhãn vẫn khuyên bác sĩ hỏi kỹ tiền sử lạm dụng chất và theo dõi dấu hiệu dùng sai thuốc.1 Ít nguy cơ lệ thuộc không có nghĩa thuốc không có tác dụng phụ hay tương tác.

So với SSRI và SNRI, buspirone đứng ở đâu?

Buspirone thường không phải lựa chọn đầu tiên, vì SSRI (thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc) và SNRI (thuốc ức chế tái hấp thu serotonin và norepinephrine) mới là nhóm thuốc hàng đầu. Đó là khuyến nghị của hướng dẫn năm 2023 do 33 chuyên gia thuộc Liên đoàn Thế giới các Hội Tâm thần học Sinh học (WFSBP) xây dựng. Cùng hướng dẫn này xếp liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) là trị liệu tâm lý hàng đầu.9

Trong thực hành, buspirone thường được dùng bổ trợ cùng SSRI hoặc SNRI, chủ yếu cho lo âu lan tỏa.8 StatPearls mô tả buspirone thường là lựa chọn hàng thứ hai, khi người bệnh không đáp ứng hoặc không dung nạp được SSRI.2 Với lo âu không đáp ứng điều trị, bằng chứng cho việc thêm buspirone hiện chủ yếu đến từ nghiên cứu nhãn mở và mới ở mức sơ bộ.10

Hướng dẫn WFSBP năm 2023 xếp SSRI, SNRI và CBT ở hàng đầu, buspirone thường dùng bổ trợ cùng SSRI hoặc SNRI hoặc là lựa chọn hàng thứ hai theo StatPearls

So sánh trực tiếp giữa buspirone và nhóm thuốc này còn rất ít. Tổng quan Cochrane chỉ có một thử nghiệm so buspirone với venlafaxine, một thuốc SNRI, và kết quả không đủ để kết luận.6 Phân tích gộp mạng năm 2019 cho phép so sánh gián tiếp, nhưng dữ liệu về buspirone dựa trên cỡ mẫu nhỏ.7 Khi phối hợp buspirone với SSRI hoặc SNRI, nhãn Anh lưu ý nguy cơ hội chứng serotonin tăng lên nên cần được theo dõi.3

Tác dụng phụ thường gặp của buspirone là gì?

Theo nhãn Mỹ, những tác dụng phụ gặp nhiều hơn rõ so với giả dược là chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, bồn chồn, choáng váng nhẹ và cảm giác bị kích thích. Trong các thử nghiệm bốn tuần có đối chứng, chóng mặt gặp ở 12% người dùng buspirone so với 3% ở nhóm giả dược. Buồn nôn là 8% so với 5%, đau đầu là 6% so với 3%. Buồn ngủ gặp ở 10% người dùng buspirone, gần bằng mức 9% ở nhóm giả dược.1

Trong các thử nghiệm trước khi thuốc lưu hành, khoảng 10% trong 2.200 người tham gia đã ngừng thuốc vì tác dụng không mong muốn. Nguyên nhân hay gặp là chóng mặt, mất ngủ, bồn chồn, buồn ngủ hoặc buồn nôn.1 Nhãn Anh ghi tác dụng phụ thường xuất hiện lúc mới dùng và hay giảm dần theo thời gian.3 Tỷ lệ trong thử nghiệm không dự đoán được điều sẽ xảy ra với một người cụ thể, nên hãy báo người kê đơn khi triệu chứng nặng hoặc kéo dài.

Biểu đồ thanh so sánh tỷ lệ tác dụng phụ giữa người dùng buspirone và nhóm giả dược: chóng mặt 12% so với 3%, buồn nôn 8% so với 5%, đau đầu 6% so với 3%, buồn ngủ 10% so với 9%

Một số ít người thấy bồn chồn, khó ngồi yên ngay sau khi bắt đầu thuốc. Sau khi thuốc lưu hành, nhãn Mỹ còn ghi nhận hiếm gặp các rối loạn vận động như loạn trương lực cơ hay hội chứng chân không yên, dù chưa xác định chắc là do thuốc.1 Thuốc có thể gây buồn ngủ, nên tránh lái xe hoặc vận hành máy cho đến khi biết thuốc ảnh hưởng mình ra sao, và không uống rượu trong thời gian dùng thuốc.11

Dấu hiệu nào cần đi cấp cứu?

Hội chứng serotonin là phản ứng có thể đe dọa tính mạng, đã được ghi nhận với buspirone, nhất là khi dùng cùng các thuốc khác tác động lên serotonin. Dấu hiệu có thể gồm kích động, lú lẫn hay ảo giác, tim nhanh, vã mồ hôi, sốt, run, cứng cơ, giật cơ, co giật, buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy.1 Phản ứng dị ứng như nổi mề đay, sưng mặt, môi, lưỡi hay họng cũng cần được xử trí ngay.11 Khi có những dấu hiệu này, hãy đi cấp cứu ngay tại cơ sở y tế gần nhất.

Danh sách trên không bao phủ mọi tình huống và không dùng để tự xác định nguyên nhân. Khi chưa chắc một biểu hiện có nguy hiểm hay không, hãy liên hệ người kê đơn, dược sĩ hoặc cơ sở y tế. Nếu nghi đã uống quá liều, hoặc người dùng thuốc bị ngất, co giật, khó thở hay không đánh thức được, hãy gọi cấp cứu ngay.

Buspirone tương tác với thuốc và thực phẩm nào?

Tương tác nguy hiểm nhất là với thuốc ức chế monoamine oxidase (MAOI), một nhóm thuốc có thể dùng để điều trị trầm cảm. Nhãn Mỹ chống chỉ định dùng buspirone cùng MAOI điều trị trầm cảm, kể cả khi bắt đầu thuốc này trong vòng 14 ngày sau khi ngừng thuốc kia, vì tăng nguy cơ hội chứng serotonin và tăng huyết áp. Cũng không bắt đầu buspirone ở người đang dùng linezolid, một kháng sinh, hoặc methylene blue đường tĩnh mạch.1

Các thuốc khác tác động lên serotonin cũng làm tăng nguy cơ hội chứng serotonin khi dùng cùng buspirone. Nhãn Anh kể đến SSRI, SNRI, thuốc chống trầm cảm ba vòng, nhóm triptan, tramadol, lithium, L-tryptophan và cỏ St. John.3 Nhãn Mỹ nêu thêm thuốc chống loạn thần và các thuốc đối kháng dopamine khác.1 Những phối hợp này không phải lúc nào cũng bị cấm, nhưng cần người kê đơn cân nhắc và theo dõi, nhất là lúc mới bắt đầu hoặc khi tăng liều.

Buspirone được chuyển hóa chủ yếu qua enzym CYP3A4 ở gan. Những thuốc ức chế enzym này có thể làm nồng độ buspirone trong máu tăng mạnh, chẳng hạn erythromycin, itraconazole, ketoconazole, ritonavir, diltiazem, verapamil hay nefazodone. Trong một nghiên cứu ở người khỏe mạnh, itraconazole làm tổng lượng buspirone trong máu tăng khoảng 19 lần và kéo theo nhiều tác dụng phụ hơn.1 Nhãn Anh ghi fluvoxamine, một thuốc SSRI, làm nồng độ buspirone tăng gấp đôi.3

Ngược lại, thuốc cảm ứng CYP3A4 như rifampicin, dexamethasone, phenytoin, phenobarbital hay carbamazepine có thể làm giảm nồng độ và tác dụng của buspirone. Với rifampicin, tổng lượng buspirone trong máu giảm khoảng 90% trong nghiên cứu ở người khỏe mạnh. Nhãn Mỹ còn ghi buspirone làm tăng nồng độ haloperidol, và từng có một báo cáo kéo dài thời gian đông máu khi thêm buspirone vào đơn có warfarin.1 MedlinePlus nhắc cả cimetidine, một thuốc mua không cần đơn ở Mỹ.11

Nước ép bưởi chùm (grapefruit) cũng được nhãn Mỹ xếp vào nhóm tương tác qua CYP3A4. Trong một nghiên cứu, uống lượng lớn nước ép bưởi chùm đậm đặc trong hai ngày làm tổng lượng buspirone trong máu tăng khoảng 9 lần, nên nhãn khuyên tránh uống nhiều nước ép này.1 MedlinePlus khuyên tránh cả việc ăn nhiều quả bưởi chùm.11 Các nguồn chỉ nói về bưởi chùm, nên nếu bạn hay ăn hoặc uống các loại bưởi khác, hãy hỏi dược sĩ cho chắc.

Bốn nhóm cần chú ý về tương tác với buspirone: thuốc MAOI, thuốc tác động lên serotonin, thuốc ảnh hưởng enzym CYP3A4 và nước ép bưởi chùm

Thức ăn làm tăng lượng buspirone được hấp thu, nên nhãn khuyên uống thuốc nhất quán, luôn cùng bữa ăn hoặc luôn lúc bụng đói. Buspirone còn có thể làm xét nghiệm nước tiểu tìm metanephrine, catecholamine cho kết quả dương tính giả.1 Vì vậy, trước khi làm xét nghiệm hay phẫu thuật, kể cả phẫu thuật nha khoa, hãy báo nhân viên y tế rằng bạn đang dùng buspirone.11

Ai cần thận trọng khi dùng buspirone?

Người có bệnh gan hoặc thận

Buspirone được gan chuyển hóa và thận đào thải. Khi dùng lặp lại, tổng lượng thuốc trong máu ở người suy gan tăng khoảng 13 lần, ở người suy thận tăng khoảng 4 lần so với người khỏe mạnh. Vì vậy, nhãn Mỹ ghi không thể khuyến nghị dùng buspirone khi suy gan hoặc suy thận nặng.1 Nhãn Anh xếp suy gan, suy thận nặng là chống chỉ định, nghĩa là không được dùng.3 Bạn không cần tự xác định bệnh đã nặng hay chưa, chỉ cần báo đầy đủ để người kê đơn xem hồ sơ.

Khi mang thai hoặc cho con bú

Dữ liệu về buspirone ở người mang thai còn rất hạn chế. Nhãn Mỹ ghi chưa có nghiên cứu đầy đủ, có đối chứng tốt trên người. Nghiên cứu trên động vật không thấy hại cho thai, nhưng kết quả ở động vật không phải lúc nào cũng dự đoán được đáp ứng ở người. Vì thế, nhãn chỉ khuyên dùng trong thai kỳ khi thật cần thiết.1 Nhãn Anh thận trọng hơn, khuyên nên tránh dùng buspirone trong thai kỳ.3

Khi cho con bú, nhãn Mỹ khuyên tránh dùng buspirone nếu điều kiện lâm sàng cho phép.1 Cơ sở dữ liệu LactMed ghi thông tin còn ít, lượng thuốc vào sữa mẹ thấp nhưng chưa có dữ liệu về dùng lâu dài. Vì vậy, có thể ưu tiên một thuốc khác, nhất là khi nuôi trẻ sơ sinh hoặc trẻ sinh non.12

Nếu bạn đang dùng buspirone và biết mình có thai, dự định mang thai hoặc cho con bú, đừng tự ngừng thuốc. Hãy liên hệ sớm người kê đơn để cùng cân nhắc lợi ích và nguy cơ cho cả mẹ và bé.

Người cao tuổi và người có bệnh khác

Ở người từ 65 tuổi trở lên, nhãn Mỹ ghi hồ sơ an toàn và hiệu quả tương tự người trẻ hơn, nhưng không loại trừ một số người lớn tuổi nhạy cảm hơn với thuốc.1 Nhãn Anh chống chỉ định buspirone ở người động kinh và người đang ngộ độc cấp rượu, thuốc ngủ, thuốc giảm đau hay thuốc chống loạn thần. Nhãn này cũng yêu cầu thận trọng khi có glôcôm góc hẹp cấp, bệnh nhược cơ hoặc tiền sử lệ thuộc thuốc.3

Nên hỏi người kê đơn những gì?

“Thuốc chưa có tác dụng” và “thuốc khiến tôi khó chịu” là hai điều khác nhau, cần được mô tả riêng. Ví dụ, bạn có thể nói “lo lắng chưa giảm nhưng tôi chóng mặt từ khi bắt đầu dùng”, kèm thời điểm và mức ảnh hưởng. Một vài câu hỏi dưới đây giúp buổi trao đổi cụ thể hơn:

  • Mục tiêu: Thuốc được kê để xử lý vấn đề nào, và khi nào xem lại lợi ích?
  • Lựa chọn: Vì sao buspirone phù hợp với tôi hơn SSRI, SNRI, trị liệu tâm lý hoặc cách kết hợp?
  • An toàn: Thuốc, sản phẩm bổ sung, bệnh nền hay kế hoạch mang thai của tôi có điểm nào cần theo dõi?
  • Theo dõi: Dấu hiệu nào cần liên hệ sớm, dấu hiệu nào cần đi cấp cứu?
  • Sản phẩm thực tế: Tên trên hộp có đúng là buspirone, và tờ hướng dẫn có gì cần hỏi lại?

Hãy mang theo danh sách mọi thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn, vitamin và sản phẩm bổ sung đang dùng.11 Không tự thêm, đổi hoặc bỏ thuốc để thử xem triệu chứng có thay đổi không. Bài viết này không đưa bảng liều, hướng dẫn chuyển thuốc hay quy trình ngừng thuốc.

Khi nào cần tìm hỗ trợ?

Hãy gặp bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần khi lo âu kéo dài, khó kiểm soát và ảnh hưởng đến học tập, công việc, giấc ngủ hay các mối quan hệ. Nếu đang dùng buspirone, hãy liên hệ người kê đơn khi tác dụng phụ kéo dài, khi tâm trạng đi xuống, khi định mang thai hoặc khi được kê thêm bất kỳ thuốc nào. Những dấu hiệu nặng như sốt kèm lú lẫn, cứng cơ, co giật, sưng mặt, khó thở hoặc nghi đã uống quá liều cần được xử trí ngay. Khi đó, hoặc khi bạn có ý nghĩ tự làm hại bản thân, hãy đến cơ sở y tế gần nhất hoặc gọi cấp cứu 115. Nếu có nguy hiểm tức thời, hãy gọi 113 và đừng ở một mình.

Ba mức: gặp bác sĩ hoặc chuyên gia khi lo âu kéo dài, liên hệ người kê đơn khi tác dụng phụ kéo dài hoặc tâm trạng đi xuống, và gọi 115 hoặc đến cơ sở y tế ngay khi sốt kèm lú lẫn, cứng cơ, co giật, sưng mặt hay khó thở, kèm số 115 và 113

Điều trị lo âu hiệu quả thường cần sự hợp tác, trong đó người bệnh mô tả rõ trải nghiệm và người điều trị giải thích các lựa chọn. Thuốc là một lựa chọn, bên cạnh trị liệu tâm lý như CBT mà hướng dẫn WFSBP cũng xếp hàng đầu. Nếu muốn hiểu thêm về sự hợp tác này, bạn có thể đọc bài Liên minh trị liệu là gì?

Tài liệu tham khảo học thuật

1. Mylan Pharmaceuticals Inc. (2026). Buspirone hydrochloride tablets: Prescribing information. Xem nguồn

2. Wilson, T. K., & Tripp, J. (2023). Buspirone. Xem nguồn

3. Strides Pharma UK Ltd. (2026). Buspirone hydrochloride 5 mg tablets: Summary of product characteristics. Xem nguồn

4. World Health Organization. (2025). 6B00 Generalised anxiety disorder. Xem nguồn

5. Imai, H., et al. (2014). Azapirones versus placebo for panic disorder in adults. Xem nguồn

6. Chessick, C. A., et al. (2006). Azapirones for generalized anxiety disorder. Xem nguồn

7. Slee, A., et al. (2019). Pharmacological treatments for generalised anxiety disorder: A systematic review and network meta-analysis. Xem nguồn

8. Garakani, A., et al. (2020). Pharmacotherapy of anxiety disorders: Current and emerging treatment options. Xem nguồn

9. Bandelow, B., et al. (2023). World Federation of Societies of Biological Psychiatry (WFSBP) guidelines for treatment of anxiety, obsessive-compulsive and posttraumatic stress disorders – Version 3. Part I: Anxiety disorders. Xem nguồn

10. Schiele, M. A., et al. (2026). Integrative systematic review on pharmacological, psychotherapeutic, and neurostimulatory treatment options in treatment-resistant anxiety disorders. Xem nguồn

11. American Society of Health-System Pharmacists. (n.d.). Buspirone. Xem nguồn

12. National Institute of Child Health and Human Development. (2026). Buspirone. Xem nguồn